Mở đầu Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính và gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử loài người. Lúa gạo có vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội, là cây lương thực chính của hơn một nửa dân số thế giới. Đối với mỗi người dân Việt Nam, cây lúa không đơn thuần là cây lương thực không thể thiếu trong bữa cơm hàng ngày của người dân Việt Nam, lúa là một nhân tố quan trọng trong việc hình thành phát triển, văn hoá truyền thống Việt Nam. Lúa là cây lương thực quan trọng cho sinh kế của người dân Việt Nam và cho an ninh lương thực quốc gia.
Theo thống kê sản lượng lúa của Việt Nam năm 2017 đạt 42,7 triệu tấn (GSO, 2017). Năm 2018, Việt Nam tiếp tục là nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba thế giới sau Ấn Độ và Thái Lan. Theo thống kê của Cục chế biến và phát triển thị trường nông sản (Bộ NNPTNT) 11 tháng của năm 2020, lượng gạo xuất khẩu của cả nước ước đạt trên 5,35 triệu tấn, thu về gần 2,64 tỷ USD; giá gạo xuất khẩu trung bình đạt gần 494 USD/tấn, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm ngoái. Phân bón là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cây trồng, các giống có thời gian sinh trưởng khác nhau sẽ yêu cầu lượng phân bón khác nhau.
Mật độ và khoảng cách cấy hợp lí là những kĩ thuật tăng khả năng quang hợp do tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo diện tích lá và chỉ số diện tích lá thích hợp. Mật độ cấy phù hợp làm tăng khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu trên khóm tăng, góp phần làm tăng năng suất cây trồng. Mặt khác, việc sử dụng quá nhiều phân bón và mật độ cao còn làm tăng áp lực sâu bệnh trên đồng ruộng, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật gia tăng dẫn đến gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống, sức khoẻ con người. Hiện nay, người dân đang quá lạm dụng phân hoá học để tăng năng suất.
Lượng 1 phân bón mà bà con thường bón cho lúa đang nhiều so với khuyến cáo dẫn đến lãng phí dinh dưỡng và chi phí của bà con. Giống lúa thuần DCG66 là kết quả nghiên cứu của dự án JICA-DCGV của Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam. DCG66 được chọn lọc từ các dòng lai xa giữa IR24 (indica) với giống lúa Asominori (japonica). Giống đã qua khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất và đã được công nhận cho phép sản xuất thử (Quyết định số 328/QĐ-TT-CLT của Cục Trồng Trọt- Bộ NN&PTNT 15/10/2018) tại các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Nam Trung bộ.
Giống lúa DCG66 có - thời gian sinh trưởng trung bình tại Đồng bằng Bắc Bộ trong vụ xuân là 115 ngày, vụ mùa là 100 ngày; lúa sinh trưởng mạnh, cứng cây, chống đổ ngã tốt, ít nhiễm sâu bệnh, năng suất trung bình trên 67 tạ/ha, chất lượng gạo phù hợp để chế biến làm bánh, bún… (Tạp chí Khoa Học Công Nghệ Việt Nam, 2019). Tại Bắc Giang, lúa là cây đã gắn bó lâu đời với người dân, lúa có vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp của tỉnh. Giúp đảm bảo về lương thực cho mỗi con người, là thức ăn chăn nuôi gia cầm, là nguyên liệu sản xuất chủ yếu cho một số ngành nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, cơ cấu lúa thuần chiếm khoảng 93%, (trong đó, lúa thuần chất lượng khoảng 40%), lúa lai khoảng 3%.
Các giống lúa thuần chất lượng đang được gieo cấy chủ yếu là Khang dân 18, BC15, TBR225, Thiên ưu 8, P6ĐB…; các giống lúa lai chủ yếu BTE-1, CL270, LC25, Kim ưu 18…Để đáp ứng nhu cầu sản xuất và sử dụng của người nông dân, cần phải đa dạng thêm về nhiều giống lúa mới phù hợp với địa phương. Để giống DCG66 được người dân áp dụng vào sản xuất đại trà cần nghiên cứu thêm về khả năng sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khả năng kháng sâu bệnh, kĩ thuật canh tác phù hợp cũng như nhu cầu dinh dưỡng của giống, khả năng thích nghi của giống với nhiều loại đất trên toàn tỉnh. Xác định lượng phân bón và mật độ cấy phù hợp của giống để cho năng suất tốt nhất. 2 Trong điều kiện canh tác phù hợp thì giống có khả năng cho năng suất tối đa đạt bao nhiêu.
Nghiên cứu về năng suất và chất lượng gạo có thể đạt được của giống DCG66 để phù hợp với nghề sản xuất bánh đa, miến và bún ở một số vùng tại tỉnh Bắc Giang. Xuất phát từ thực tế trên để có năng suất cao, sản lượng lúa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao hiệu quả sản xuất chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa DCG66 trong vụ xuân 2021 tại Lạng Giang, Bắc Giang “. Mục tiêu đề tài - Xác định được lượng phân bón và mật dộ cấy phù hợp cho giống lúa DCG66 trong vụ xuân tại Lạng Giang, Bắc Giang. Yêu cầu của đề tài Đánh giá ảnh hưởng của lượng phân bón và mật độ cấy tới các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại, năng suất và cấu thành năng suất giống lúa DCG66 trong vụ xuân tại Lạng Giang, Bắc Giang.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa gạo Việt Nam và tỉnh Bắc Giang 2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa gạo Việt Nam Nghề trông lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa ở các nước Châu Á. Theo các tài liệu khảo cổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam cây lúa đã có mặt từ 3000 năm trước công nguyên. Tổ tiên chúng ta đã thuần hóa cây lúa dại thành cây lúa trồng và phát triển nghề trồng lúa đạt được những tiến bộ như ngày nay. Trước năm 1945, diện tích trồng lúa ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là 1,8 triệu và 2,7 triệu ha với năng suất trung bình 13 tạ/ha, sản lượng khoảng 2,4-3,0 triệu tấn.
Trong thời gian này, giống lúa được nông dân sử dụng chủ yếu là giống lúa địa phương. Ở miền Bắc sử dụng giống lúa cao cây, ít chịu thâm canh, dễ đổ, năng suất thấp. Sau năm 1975, diện tích trồng lúa tăng khá nhanh và ổn định, nhưng năng suất bình quân giảm sút khá nghiêm trọng do đất đai mới khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai và sâu bệnh, cơ chế quản lý nông nghiệp trì trệ không phù hợp (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam). Bước sang 1980, năng suất lúa tăng dần do khắc phục được những nguyên nhân trên như: thay đổi cơ chế quản lý nông nghiệp bằng chủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất, cải thiện hệ thống kênh mương.Sau những nỗ lực khắc phục khó khăn nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn.
Từ một nước phải nhập khẩu gạo hàng năm chúng ta đã tự túc được lương thực và dần dần tái hòa nhập vào thị trường lương thực thế giới, chiếm lĩnh ngay vị trí quan trọng là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 rồi thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Từ năm 1997 đến nay, hằng năm nước ta xuất khẩu trung bình trên dưới 4 triệu tấn gạo, đem về một nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể. Hiện nay, Việt Nam đứng hàng thứ 6 về diện tích gieo trồng và đứng hàng thứ 5 về sản lượng lúa. Hạt gạo VN chẳng những đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực trong nước mà còn góp phần quan trọng trong thị trường lúa gạo thế giới (Tổng cục Thống kê Việt Nam).
4 Năm 2019 khép lại, ngành hàng lúa gạo Việt Nam tạo được nhiều ấn tượng khi xuất khẩu trên 6,3 triệu tấn, trị giá 2,7 tỷ USD. Điểm nhấn quan trọng là gạo ST25 được bình chọn là gạo ngon nhất thế giới. Cơn sốt gạo ngon nhất thế giới ST25 đã thổi luồng gió mới vào thị trường lúa gạo trong và ngoài nước. Diễn biến Covid-19 chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam, nhưng tác động sẽ không lớn, vì số lượng xuất khẩu vào Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 400.
Có một tín hiệu lạc quan của xuất khẩu gạo Việt Nam trong vài năm gần đây là tỷ lệ gạo thơm, đặc sản, chất lượng cao của Việt Nam chiếm trên 80% số lượng xuất khẩu. Nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo hiện đang tập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa chất lượng cao theo nhu cầu của thị trường. 8 59 7,9 58 7,8 57 diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) 7,7 56 7,6 55 7,5 54 7,4 53 7,3 52 7,2 51 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 Axis Title diện tích (triệu ha) năng suất(tạ/ha) Biểu đồ 1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2019) 5 Theo Tổng cục thống kê năm 2019, sản lượng lúa của Việt Nam năm 2019 đạt 43,44 triệu tấn, giảm 1,3% so với năm 2018.
Nguyên nhân là do diện tích gieo trồng giảm, thiếu nước, xâm nhập mặn kéo dài nghiêm trọng, biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến thất thường. Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, tình trạng xâm nhập mặn ngày càng sâu thêm cả tình trạng thiếu nước ngọt ở các con sông lớn phục vụ sản xuất. Tại các địa phương phía Nam, nắng nóng gây khô hạn cũng là nguyên nhân chính làm giảm 5,9 nghìn ha lúa mùa tại các địa phương thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây nguyên; ngoài ra, việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ lúa mùa sang lúa Đông xuân tại Cà Mau cũng làm giảm diện tích lúa mùa chung toàn miền. Bên cạnh nguyên nhân do ảnh hưởng bởi các đợt nắng nóng kéo dài, thiếu nước tưới hoặc bị nhiễm mặn phải bỏ hoang thì việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, thiếu lao động nông nghiệp thì diện tích lúa mùa giảm nhiều.
Tình hình sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Hồng thì tốt hơn là do điều kiện thời tiết thuận lợi hơn xâm nhập mặn, hạn hán không xảy ra. Do chuyển đổi cơ cấu thâm canh, tăng năng suất và chất lượng gạo nên việc sản xuất lúa gạo để xuất khẩu gạo cũng tăng cả về số lượng, chất lượng và giá. Năm 1989, Việt Nam xuất khẩu những lô hàng gạo đầu tiên. Ngày 7/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO), lúc ấy có nhiều người tỏ ra lo lắng khi các doanh nghiệp trong nước đang "chập chững" bước vào sân chơi quá lớn, quá lạ lẫm của thế giới, nhất là đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu.