ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây Việt Nam được xem là một trong số các quốc gia đứng đầu về xuất khẩu cà phê và hồ tiêu cho thị trường thế giới. Tây Nguyên là vùng có diện tích và sản lượng lớn nhất cả nước về cà phê (Coffea canephora) và hồ tiêu (Piper nigrum). Những năm gần đây người dân vùng Tây Nguyên mở rộng diện tích trồng hồ tiêu một cách ồ ạt, vượt xa quy hoạch cơ cấu hồ tiêu của từng địa phương. Diện tích cà phê chiếm 89,4% so với tổng diện tích của cả nước và diện tích hồ tiêu chiếm 51,3% diện tích cả nước.
Hầu hết người nông dân ở vùng này sống dựa vào nguồn thu nhập từ 2 cây trồng này. Vùng cà phê Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ già cỗi, hiện tại có khoảng 100.000 ha năng suất dưới 1,5 tấn/ha, cần trồng tái canh. Thực tế hiện có nhiều diện tích tái canh không thành công. Diện tích trồng hồ tiêu tại một số địa phương ở các tỉnh Tây Nguyên đã vượt diện tích trồng so với quy hoạch, nhiều diện tích trồng không theo quy hoạch.
Hiện nay sản xuất cà phê và hồ tiêu đang đối mặt với nhiều khó khăn như dịch bệnh hại, trong đó tuyến trùng hại rễ là vấn đề nan giải và khó xử lý. Tuyến trùng (Meloidogyne incognita, Pratylenchus coffeae) tấn công ký sinh và chích hút rễ mở đường cho nấm xâm nhập gây ra triệu chứng thối rễ và làm cho cây cà phê bị vàng úa dẫn đến chết. Nhiều diện tích và phê và hồ tiêu đã bị nhiễm nặng với tuyến trùng và nấm, làm giảm năng xuất nghiêm trọng dẫn đến thu nhập của bà con nông dân trong vùng giảm đáng kể. Chính vì thế, sự xuất hiện của tuyến trùng gây hại rễ phải được kiểm soát khẩn cấp trong thâm canh cây trồng (Chitwood, 2002; Aoudia et al.
Tuy nhiên việc kiểm soát tuyến trùng đang gặp nhiều khó khăn, ở Tây Nguyên người nông dân thường sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ tuyến trùng như Mocap 10G (50g/gốc), Vimoca 20 ND (0,3%, 2 lít dung dịch/gốc), Marshal 5G (50g/gốc), Oncol 20EC (0,3%, 2 lít dung dịch/gốc). Theo nhiều nghiên cứu đã chứng minh, sử dụng thuốc hóa học gây ra nhiều hệ lụy xấu như ô nhiễm môi trường do bởi dư lượng của thuốc để lại, sử dụng thuốc hóa học chỉ là giải pháp nhất thời, ngắn hạn. Trong dài hạn ngoài biện pháp chọn tạo giống, cần có các sản phẩm sinh học như vi sinh vật, thảo dược và các hoạt chất có nguồn gốc sinh học khác để phòng trừ hiệu quả tuyến trùng và nấm bệnh hại rễ cà phê và hồ tiêu. 1 Trên cơ sở các nghiên cứu về hoạt tính của dịch chiết xuất vỏ quế phòng trừ tuyến trùng và nấm bệnh chính gây hại rễ bước đầu đã cho kết quả rất khả quan, cụ thể: cao chiết xuất vỏ cây quế cho thấy hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến trùng Meloidogyne incognita (Nguyen DMC et al., 2011; Nguyen DMC et al., 2012), Pratylenchus coffeae (Nguyễn Đăng Minh Chánh và Jung 2014), Bursaphelenchus xylophilus (Nguyen DMC et al., 2009) và nấm bệnh Rhizoctonia solani (Nguyen VN et al.
Khi kết hợp với chitosan cho hiệu quả phòng trừ cao với tuyến trùng Meloidogyne incognita và nấm bệnh Rhizoctonia solani (Seo và Nguyen DMC, 2014). Theo nghiên cứu của Cù Thị Dần và cs. (2015) ở Viện KHNLN Tây Nguyên cho thấy sau khi xử lý cao chiết xuất vỏ quế, sinh trưởng của cây trong điều kiện thí nghiệm không có sự sai khác, điều này cho thấy sử dụng cao chiết xuất vỏ quế không những phòng trừ sâu bệnh hiệu quả mà còn không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng. Kết quả của nhiều nghiên cứu đã chứng minh dịch chiết xuất cây quế và hợp chất chitin/chitosan là các hợp chất có hiệu quả phòng trừ tuyến trùng gây hại cây trồng và nâng cao năng suất cây trồng.
Tuy nhiên việc phối hợp hàm lượng như thế nào, tỷ lệ bao nhiêu cho hiệu quả là vấn đề cần được làm rõ trong đề tài này. Quan trọng là chế phẩm không gây ảnh hưởng đến môi trường và chất lượng sản phẩm cà phê và hồ tiêu. Xuất phát từ vấn đề thực tiễn đã nêu trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến sinh trưởng phát triển của cây cà phê, hồ tiêu và hiệu quả phòng trừ tuyến trùng. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU: 1.
Mục đích - Xác định hiệu quả của chế phẩm sinh học chiết xuất từ vỏ cây quế (Cinnamomum cassia) kết hợp với chitosan đến sinh trưởng phát triển của cây cà phê và hồ tiêu và khả năng phòng trừ tuyến trùng gây hại rễ trên những cây trồng tại Đăk Lăk. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây cà phê và hồ tiêu điều kiện nhà lưới ở Đăk Lăk. 2 - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm đến khả năng phòng trừ tuyến trùng (Meloidogyne incognita và Pratylenchus coffeae) gây hại trên cà phê và hồ tiêu điều kiện nhà lưới ở Đăk Lăk. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây cà phê và hồ tiêu tại Đăk Lăk, đề tài đi sâu vào xác định hiệu quả của chế phẩm trong điều kiện nhà lưới, đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm đến khả năng phòng trừ tuyến trùng gây hại trên cà phê và hồ tiêu.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 1. Đóng góp mới Việc tạo CPSH phòng trừ hiệu quả tuyến trùng và nấm gây hại cây cà phê và hồ tiêu tại Tây Nguyên đang là nhu cầu cấp bách hiện nay. Công nghệ tách chiết một số chất có hoạt tính từ vỏ cây quế và sản xuất CPSH để phòng trừ hiệu quả sâu bệnh hại trên cây cà phê và cây hồ tiêu là một trong những hướng nghiên cứu mới và hiện đại nhằm thay thế các loại thuốc hóa học đang sử dụng. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp cơ sở khoa học cho việc sử dụng CPSH nói chung và chế phẩm tách chiết từ vỏ cây quế, chitosan nói riêng trong phòng trừ sâu bệnh hại cà phê và hồ tiêu.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài đánh giá hiệu quả của CPSH tách chiết từ vỏ cây quế kết hợp với chitosan đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây cà phê và hồ tiêu và khả năng phòng trừ tuyến trùng gây hại tại Đăk Lăk. Kết quả của đề tài đóng góp vào việc chuyển đổi dần việc sử dụng hóa chất sang sử dụng CPSH để phòng trừ hiệu quả sâu bệnh gây hại trong sản xuất cà phê và hồ tiêu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường, hướng đến phát triển bền vững kinh tế cho bà con nông dân sản xuất cà phê và hồ tiêu vùng Tây Nguyên và các vùng khác. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÀ PHÊ VÀ HỒ TIÊU TẠI TÂY NGUYÊN Tây Nguyên có diện tích cà phê và hồ tiêu lớn nhất nước, hầu hết người dân vùng này sống dựa vào cà phê và hồ tiêu. Đến năm 2015, tổng diện tích cà phê ở Tây Nguyên là 561.464 ha (Đắc Lắc 202.000 ha, Lâm Đồng 153.432 ha, Gia Lai 78.030 ha, Đắk Nông 114.118 ha, Kon Tum 13.381 ha), chiếm 89,4% so với tổng diện tích cà phê của cả nước.
Theo thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, đến cuối năm 2014, diện tích cây tiêu trên địa bàn Tây Nguyên đạt gần 44.000 ha, chiếm 51,3% diện tích cả nước, trong đó Đăk Nông đạt 11.000 ha và Gia Lai có diện tích nhiều nhất đạt hơn 20. Tuy nhiên người dân đang gặp khó khăn trong sản xuất 2 loại cây trồng chủ lực này, do vấn đề sâu bệnh hại, đặc biệt là tuyến trùng. Tuyến trùng gây hại rễ là tác nhân chính để cho một số loại nấm bệnh tấn công, dẫn đến rễ cây bị u sưng, thối, cây phát triển còi cọc và nếu nhiễm nặng cây sẽ chết. Người dân vẫn có xu hướng sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ tuyến trùng gây hại cây cà phê và hồ tiêu, tuy nhiên sử dụng thuốc hóa học gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho người sử dụng, chất lượng sản phẩm giảm và ô nhiễm môi trường do dư lượng của thuốc hóa học để lại.
KỸ THUẬT CHĂM SÓC CÂY CÀ PHÊ VÀ HỒ TIÊU 2. Kỹ thuật chăm sóc cây cà phê Cà phê vối giống Robusta (Coffea Robusta) được trồng phổ biến ở các nước Châu Phi, Ấn Độ. Indonesia, Việt Nam v. Ở nước ta diện tích cà phê vối chiếm hơn 95% diện tích cà phê.
Đặc tính của giống này là cây to, khoẻ, và cho năng suất cao nhưng phẩm chất nước uống không được thơm ngon lắm so với cà phê chè. Do đặc tính thụ phấn chéo bắt buộc nên trong một vườn cà phê vối không đã không đồng nhất nhau về dạng hình cây, cả về hình dạng và kích cỡ hạt cũng như khả năng cho năng suất của từng cá thể. Ngày nay việc sử dụng các dòng vô tính bằng kỹ thuật nhân vô tính như giâm cành, ghép chồi v. Phân hữu cơ: Phân hữu cơ là loại phân tốt nhất cho cây trồng.
Nó có các đặc tính mà phân hoá học không có được. Ngoài tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, phân hữu cơ còn cải tạo được lý, hoá, sinh tính đất tức là cải thiện được môi trường đất. Phân hữu cơ bao gồm phân chuồng, phân than bùn, phân rác, vỏ quả cà phê. nói chung là các vật liệu có nguồn gốc hữu cơ thông 4 qua ủ và chế biến để tăng cường chất lượng.
Phân hữu cơ cho cà phê trồng mới được bón lót theo liều lượng ở phần trồng mới. Các năm kiến thiết cơ bản và kinh doanh thì cứ 2 - 3 năm bón lại 1 lần với liều lượng 20 - 30 m3/ha. Đào rãnh ở mép bồn, đào 2 rãnh 2 bên sâu 25 - 30 cm rộng 30cm, bón phân hữu cơ kết hợp vùi tàn dư thực vật trên lô. Lần bón tiếp theo thay đổi vị trí bón ở 2 phía còn lại.
Việc bón phân chuồng nên tiến hành vào đầu cho tới giữa mùa mưa. Phân hoá học: Lượng phân hóa học thay đổi tuỳ theo tuổi cây, loại đất trồng, năng suất vườn cây. Trên đất có độ phì trung bình áp dụng mức phân bón sau: - Năm thứ nhất: sau khi trồng bón thúc 130 kg Urê + 50 kg KCl/ha chia làm 2 lần bón.