CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE HOẠT DONG CUA HỆ THONG. TIÊU BANG ĐỘNG LỰC VA VAN ĐÈ NGHIÊN COU 1.1 Hiện trạng thủy lợi ở Việt Nam 1. Tình hình phát triển thủy lợi ở Việt Nam [2,3] "Ngoài một số công tình thuỷ lợi được xây dựng từ thời Pháp thuộc như công trình đập dâng và hệ thông thuỷ loi sông Chu, tinh Thanh Hoá, đập dâng Cầu Sơn, tỉnh Bắc Giang, hệ thông thuỷ lợi Liễn Sơn - Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phúc, hệ thông. đập ding và âu thuyển Thác Huéng, tinh Thái Nguyên.
Các hệ thống này đã hoạt động hang trim năm, và gin đây đã được đầu tư nâng cấp cải tạo. hết các hệ thing thuỷ lợi của nước ta được xây dưng và đưa vào vận hình từ những năm 1960 tr lại đây, và có thể chia thành 3 giai đoạn gắn liỀn vớ tiến tình đầu tranh giải phỏng dit nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Giai đoạn sau hoà bình lập lai năm 1954 đến năm 1975, với chính sich phát động toàn dân làm thuỷ lợi bắt đầu từ những năm 1960 với sự giúp do về kỹ thuật và thết bị của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu một loạt các công trình thuỷ lợi ở vùng dor bằng Bắc Bộ được xây dựng như các tram bơm tưới Ban Hoải, La Khê, Phù Sa, Ap Bắc, Nam Hồng, Hà Nội: Như Quỳnh, Văn lâm, Văn Giang, tinh Hưng Yên, Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải mãi dải trên ba tinh Bắc Ninh, Hưng Yên, và Hai Dương; Hệ thống 6 tram bơm tiêu lớn Như Trác, Cổ Dam, Hữu Bị, Cốc Thanh, Vĩnh Trị thuộc tính Hà Nam và Nam Định,. đã được xây dựng đồng loạt tạo ra hạ ting cơ sở vật chất lớn phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn miễn Bắc và kết quả thu được là hầu hét điện tích canhtác nông nghiệp ở miễn Bắc được sin xuất từ một vụ thành sản xuất hai vụ. Một vùng đất gần hai trăm ngân ha thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải trước khi có hệ thống thuỷ lợi là ving tring, chua phén thành những vùng đất canh tác phì nhiêu, nông thôn tri phú như ngày nay.
Giai đoạn sau giải phóng Miễn Nam tir năm 1975 đến năm 1985, cùng với sự. tiếp quan hạ ting cơ sở thuỷ lợi từ chế độ cũ để lại, hàng loạt các công tinh thuỷ lợi lớn ở miễn Trung và Miễn Nam được xây dựng như hệ thống thuỷ lợi Phú Ninh Hạc viên: Nguyễn Thị Minh Quyên Lớp CHI6Q “Trường Đại học Thủy Lợi 5 Tuận văn Thạc sĩ kỳ thuật — tính Quảng Nam, Dầu Tiếng ở Tây Ninh. Kẻ Gỗ ở Hà Tinh và hing ngàn ki 16 mét kênh mương cũng như các công trình khác được xây dựng. “Giai đoạn sau năm 1985 đến nay: Chính sách đổi mới của Đảng ta vạch ra tại ‘Dai hội Bang toàn quốc lin thứ 6 năm 1986, tấp tục tiền tinh đầu tư phát triển thuỷ lợi của những năm sau giải phóng, ing với việc mở rộng xây dựng phát triển các.
công trình thu lợi nhỏ ở trung du min ni từ Bắc vào Nam thi các công tình thuỷ lợi vừa và lớn thuộc các vùng đồng bằng cũng thường xuyên được nhà nước đầu hư sửa chữa, nâng cấp. Tính ti thời điểm năm 200, cả nước đã xây dựng được 75 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn và rắt nhiều hệ thống thuỷ lợi loi nhỏ, Đã xây dựng được 743 hỗ chứa 6 dung tích trên 1 tiệu m` (riéng các hồ dung tich trên 10 iệu mÌ có 70 hồ), khoảng 3.500 hỗ chứa nhỏ; 1.020 đập dâng (không kể những hồ đập tam); số liệu thống ké gần đây nhất cổ khoảng gin 2000 hồ chứa có dung tích từ 200.000 trạm bơm lớn các loại với công suất lắp may cho tới là 250MW và tigu là 300MW; có gần 5.000 cổng ti tiêu lớn cúc lại, trên 23.000 km bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở đồng bằng sông Cứu Long, 5.000 km dé biển, và cù ự với hàng vạn km kênh mương và các công trình rên kênh. Riêng vùng núi phía Bắc đã xây dựng được 1.750 hồ chứa vừa và nhỏ, 4.190 đập dâng và hàng trăm công trình thuỷ điện, thuỷ luân (tính cả đập hồ. tam), Tổng gif trị tải sin phần nhà nước đã đầu tr khoảng 100.000 tỷ đồng (tính đến thời giá năm 1998) chưa tính ti sin cố định cho các hệ thống để điều, công trình thuỷ điện và công sức của nhân dân đóng góp [3] Hiệu quả của các công tình thuỷ lợi đem lạ là dt to lớn, iện nay năng lực tưới của các công trình thuỷ lợi trên toàn quốc là trên 3 triệu ha diện tích đắt canh.
tác, gop phẫn mỡ rộng điện tích canh ác, thâm canh tăng vụ, lăng năng suất cây trồng. Thuỷ lợi là biện pháp cơ bản để nâng chỉ số quay ving sử dụng đất. Tính binh quân trong các năm từ 1986 đến 1998 mỗi năm diện tích tưới tăng 6 vạn ha lúa đông xu „7 vạn ha lúa mùa, và 8-10 vạn ha lúa hề thủ, kết quả này lãm tăng hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,5 lần năm 1958 lên trên 2 lin vào năm 1990 và lên 2.2 lần vào năm 1997 và đến nay hệ số sử dụng đắt da ới 24 ở một số ving đồng Hạc viên: Nguyễn Thị Minh Quyên Lớp CHI6Q “Trường Đại học Thủy Lợi 6 Tuận văn Thạc sĩ kỳ thuật ng Bắc Bộ, Công với tng diện ch tưới iu và cúc biện pháp giống dé ting năng suất, sn lượng lúa năm 2002 trên cả nước dat tới 33,6 tr ú Ngoài hiệu quả các công trình thủy lợi mang lại về mặt nông nghiệp, thủy lợi côn mang lại nhiều hiệu ích trên nhiều lĩnh vục khác. Các hệ thống thu lợi ở các vùng ven.
ién đã ngăn mặn, giữ ngọt tao điều kiện cấp nước sản xuất và đặc biệt à cấp nước ngọt cho hing tigu người ng ở các vùng đất ven biển không sử dung được nước ngằm do nguồn nước ngầm bị nhiễm phèn. Các hồ chứa đã cung sắp noc ăn, nước sinh hoạt cho nhân dân trong vũng, nguồn nước cho phát triển nông nghiệp ở các vùng trước khi có hd chứa dân sống thưa thốt vi không có nước ngọt, và đất đai hầu hết là bo hoang. Ngoài ra các công trình thuỷ lợi đã góp phần cai ạo môi trường sinh thi, hệ thống bờ bao thoát lĩ ở đồng bằng sông Ci Long đã tạo cơ sở xây dựng hàng trăm cụm, tuyến dân cư chung sông với lũ. Nhiễu hệ thing hồ đập đã tạo ra các tải nguyên du lịch lớn như hd Đại Lái.
hệ thống thuỷ lợi Suối Hai, Đồng Mô, Núi Cốc, Dầu Tiếng, Phú Ninh 112 Tĩnh hình hoạt động của các bệ thống tiên động lực ở nước ta Hiện nay các hệ dl ig tiêu bằng động lực được xây dựng phổ bị ở hầu khắp các vùng trong cả nước. Có hai hình thức xây dựng là trạm bơm tiêu và tưới tiêu kết hợp, Các tram bom vừa va lớn hầu hết được xây dựng ở vũng đồng bằng, tất đai trong khu vực được bao bọc bởi các con sông lớn. Chẳng hạn hệ thong 6 tram bơm điện vừa và lớn của tỉnh Hà Nam trới, tiêu cho khu vực Bắc Nam Định và Nam Hà Nam là một khu vực đồng chiêm tring. Phía Đông Bắc khu vực giáp sông Hing và sông Dio, phía Tây giáp sông Diy, Đông và Đông Nam có sông Đào Nam Định nỗi liền sông Hồng và sông Bay.
Địa hình khu vực lông chảo, cốt đất từ 0,5 = 2 m chiếm đa số, VỀ mùa mưa (từ tháng 6 đến thing 11) nước từ thượng nguồn dồn về lim cho mực nước sông lên co, trong khi đó cũng do mưa ma trong đồng bị ngập trắng nước. Vì mục nước sông cao hơn tong đồng nên việc tháo nước tự chảy không thực hiện được, tình hình này kéo đãi hầu như cả mia mưa làm cho tinh trang ngập ứng nghiêm trọng, vụ mùa hiu như mắt trắng, Ngược lại, v8 mùa khô lượng mut it, mực nước sông lại thấp, việc lẫy nước tự chảy từ ngoài sông vào, cũng khó thực hiện, vụ mùa đã úng, vụ chiêm lại khô vì thiếu nước. Để giải quyết Hạc viên: Nguyễn Thị Minh Quyên Lớp CHI6Q “Trường Đại học Thủy Lợi 7 Tuận văn Thạc sĩ kỳ thuật chủ động việc tưới, iêu nước thì không th thiểu vai rồ các trạm bơm tưới ú u kết hợp. Việc quyết định cho 5 trạm bơm Nam Hà kết hợp 2 nhiệm vụ tưới tiêu là hợp lý.
Ngoài ra còn một số trạm bơm tưới tiêu kết hợp lớn khác đã được xây dưng Năm 1967 xây dụng xong 2 trạm bơm lớn Cốc Thành, Cổ Đam (Nam Định), tam 'Cốc Thành tưới cho một phan diện tích huyện Mỹ Lộc, huyện Vụ Bản và phía Dong huyện Ý Yên với tổng điện tích tưới là 23.508 ha a cho huyện Mỹ Lộc và một phần huyện Vụ Bản với tổng diện tích tiêu là 13. Trạm lắp 7 may 0116 - 145 của Liên Xô (ei), Trạm bơm Hữu Bị kết hợp ti iu, tưới cho huyện Bình Lục và Thành phố Nam Định với ổng diện tch tưới là 12420 ha ề cho 2 huyện Lý Nhân, Bình Lục và Thành phố Nam Định với tổng điện tích tiêu là 10. Tram lắp 4 my 0116 - 145 của Liên Xô (ci), Một số trạm bơm tiêu lớn khác được xây dựng như trạm bơm tiêu Vân Dinh (Ứng Hòa) 28 máy 8.000 mÌ?h tiêu ra sông Day, tram bom tiêu Bạch Tuyết (Mỹ Đức) 6 máy 8.000 mh tiê ra kênh Bạch Tuyết, Địa hình phúc tạp và khí hậu khắc nghiệc các tram bơm thực sự được quan tâm và là biện pháp công trình chủ yêu trong tiêu nước cho cây trồng 11-3. Hiệu quả hoạt động hệ thẳng tiêu ở Việt Nam Việc tiêu nước chủ động bằng trạm bơm đã tác động mạnh mé đến sự phát tiễn nông nghiệp, mang li hiệu quả rõ rt, không chỉ đồi với sản xuất nông nghiệp mà còn đối với các ngành kinh tế ä hội và môi trường, sinh thái.
Những diện tích trước đây chỉ cấy 1 vụ do Ging hạn nay đã chuyển thành diện tích cấy 2, 3 vụ ăn chắc, Do đó làm cho hệ số sử dụng ruộng dit, hệ số gieo trồng tăng lên. Các biện pháp thâm canh cây trồng được áp dung rộng rãi, góp phần tăng năng suất cây trồng Mie dù đã có những hiệu quả rõ rệt, nhưng trong thời gian qua, hệ thông các tram bơm tiêu nước ta vẫn côn nhiễu tồn ti cin khắc phục ở những mặt sau: HỆ thống công trình = HG thẳng đã được hình thành qua nhiễu thời kỳ và được đầu tư xây dụng với tốc độ khá nhanh.