Chương 1 : Hiện trạng phát triển kiến trúc trung tâm nuôi dưỡng trẻ mỗ côi trên thể giới và trong nước. + Chương 2 : Cơ sở khoa học tổ chức không gian kiến trúc trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi tại Hà Nội theo phương thức kết hợp công tư (PP), + Chương 3 : Đề xuất giải pháp tổ chức không gian trung tâm nuôi dưỡng trẻ mỗ côi tại Hà Nội theo phương thức kết hợp công tư (PPP). ~ Phần kết luận ~ Phần phụ lục và tài liệu tham khảo. PHAN NOI DUNG Chuong 1: Hign trang phat trién kién trac trung tim nudi dưỡng trẻ mồ côi trên thế giới và trong nước 1.
Một số khái 1. Trẻ mồ côi Theo khoản 1, điều 4 nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 : Trẻ mỗ côi là trẻ mắt cả cha và mẹ, trẻ bị bỏ rơi, mắt nguồn nuôi dưỡng. Trẻ mồ côi cha (hoặc mẹ) nhưng người còn lại là mẹ (hoặc cha) mắt tích theo quy định tại điều 78 của bộ luật dân sự, hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật, hoặc đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng. Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi “Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi (hay còn được gọi là trại trẻ mồ côi,cô nhỉ viện, mái ấm tình thương) là những công trình tòa nhà được xây dựng tại những địa điểm nhằm mục đích dành cho việc thu nhận, nuôi dưỡng,chăm sóc và giáo dục tập trung dành cho trẻ mô côi Cha mẹ hay đôi khi ông bà có trách nhiệm về mặt pháp lý để chăm sóc,nuôi dưỡng ,hỗ trợ trẻ em,nhưng trong trường hợp không có điều kiện do hoàn cảnh éo le hoặc không có người thân khác sẵn sàng để chăm sóc thì những trẻ mỗ côi này trở thành đối tượng chăm sóc của nhà nước và Xã hội.
tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi là một trong những cách thức thể hiện cho việc chăm sóc và là mái nhà gia đình của những trẻ mồ côi.Đây là một trong những phúc lợi xã hội,chính sách an sinh,thiện nguyện xã hội của mỗi quốc gia Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi có nhiều loại hình không chỉ dành cho những trẻ em lành lặn mà còn có những trung tâm chuyên dành cho trẻ em tàn tật, trẻ em bị chất độc màu da cam. hoặc là trung tâm nuôi dưỡng cả trẻ em lành lặn và trẻ em khuyết tật.Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn hướng. vào loại hình trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi điển hình,không đề cập tới các trường hợp đặc biệt nêu trên 1. Phương thức kết hợp công tư (PPP) Phương thức kết hợp công tư (PPP) có nghĩa là hình thức hợp tác giữa nhà nước và các đối tượng ngoài công lập, mà theo đó Nhà nước cho phép và tạo.
điều kiện cho phía tư nhân cùng tham gia đầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng. Theo đó, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuân về cung cấp dịch vụ và khu vực tư nhân được khuyến khích tham gia hợp tác bằng cơ chế thanh toán chất lượng dịch vụ. PPP là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công chất lượng cao. Hình thức hợp tác này sẽ mang lại lợi ích cho cả Nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính và lợi thể quản lý từ khu vực tư nhân, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích của người dân ~ Các hình thức PPP: Trên thế giới hiện nay có 5 hình thức PPP phổ biến: * Xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT: Build — Operate ~ Transfer) là mô hình mà doanh nghiệp thực hiện dự án sẽ thực hiện xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định; sau đó chuyển giao toàn bộ cho Nhà nước * Xây dựng — chuyển giao ~ vận hành (BTO) là mô hình dự án mà quyền sở hữu cơ sở hạ tầng được chuyển giao ngay cho Nhà nước sau khi hoàn thành xây dựng, nhưng doanh nghiệp thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình.
* Xây dựng ~ sở hữu ~ vận hành (BOO; Build ~ Own - Operate) là mô hình mà doanh nghiệp thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vận hành dự án. * Nhượng quyền khai thác ( Franchise) là hình thức mà theo đó cơ sở hạ ting được Nhà nước xây dựng và sở hữu nhưng giao (thường là thông qua đánh giá) cho tư nhận vận hành và khai thác. * Thiết xây dựng ~ tài trợ - vận hành (DBEO: Design ~ Build Finace — Operate) là mô hình mà khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc Nhà nước - Ap dung PPP ở các nước: + Nước Anh là quốc gia đi tiên phong trong áp dụng mô hình PPP, với các chương trình tư nhân hóa nỗi ếng của cựu Thủ tướng M. Trong gần 20 năm (1987-2005), nước Anh có 725 dự án thực hiện theo mô hình PPP với tông mức đầu tư trên 100 triệu bảng.
+ Nhật Bản là quốc gia phát triển rất mạnh mô hình PPP. Các lĩnh vực được ứng dụng có hiệu quả là các dự án không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án ma Nhà nước không thê tham gia trực tiếp như: sản xuất và phân phối điện, đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng. Các lĩnh vực này có tác dụng lớn là giảm chỉ phí, giảm rủi ro và tạo môi trường cạnh tranh cao. + Ở các nước khác như Mỹ, Ôxtraylia, Pháp, Hàn Quốc.
việc ứng dụng mô. hình PPP chủ yếu là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ công. Theo thống kê trong 3 năm 2003-2005, tổng giá trị đầu tư theo hình thức PPP của các nước G7 khoảng 100 tỷ USD. + Ở khu vực Mỹ La tỉnh, trong 20 năm (1990-2009) đã có 4.569 dự án thực hiện theo hình thức PPP, với tổng vốn cam kết là 1.575 tỷ USD; bao gồm cả việc tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước.
+ Nhìn chung, trên thể giới, hai lĩnh vực có tỷ trọng áp dụng mô hình PPP cao nhất là năng lượng và viễn thông; Trong đó các dự án đầu tư theo phương. thức xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO) chiếm >50%. - Ứng dụng mô hình PPP ở Việt Nam Trong giai đoạn 2004-2009, Việt Nam đã có 32 dự án được ứng dụng theo. hình thức PPP với mức vốn cam kết đầu tư khoảng 6,7 tỷ USD.
Hai lĩnh vực chiếm tỷ lệ lớn nhất là điện và viễn thông, với các hình thức chủ yếu là BOT và BOO. Ngoài ra, một số dự án giao thông khác như: BOT cầu Phú Mỹ, BOT cầu Cỏ May hoặc dự án phát điện như điện Phú Mỹ và các nhà máy điện nhỏ khác theo hình thức BOO.Riêng năm 2010, theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài, tổng số dự án cấp mới theo đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án. Mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ công được coi là hướng đi đúng đắn của nước ta và các địa phương trong thời gian hiện nay. Tuy nhiên, để mô hình PPP có thể thực sự hoàn thiện và đem lại lợi ích, cần có hành lang pháp lý, chính sách thực thi hợp đồng, chế tài giải quyết tranh chấp đầy đủ và ôn định.
Mặt khác cần các quy định rõ ràng của. các địa phương về danh mục dự án, môi trường thuận lợi, cam kết hỗ trợ của chính quyền, thủ tục hành chính nhanh gọn sẽ góp phần giảm chỉ phí, tăng tính minh bạch và khuyến khích được các nhà đầu tư tham gia tích cực hơn. Quy mô và phân loại của trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi ở Việt Nam a. Phân loại trẻ mồ côi Trẻ mồ côi được xác định dựa trên 3 điểm sau - Trẻ mồ côi cả cha và mẹ, không còn người chăm sóc, nuôi dưỡng, không còn ai nương tựa.
~ Trẻ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại mắt tích, hoặc không đủ khả. năng nuôi dưỡng do ốm đau, bệnh tật. hoặc lấy chồng,lấy vợ khác nhưng. không đủ khả năng nuôi con, hoặc đang trong thời kỳ chấp hành án.
~ Trẻ mỗ côi do bị bỏ rơi, không còn người thân thích nương tựa, mắt nguồn nuôi dưỡng. Quy mô của trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi ở Việt Nam Hiện nay, ngoài các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mỗ côi của nhà nước còn có rất nhiều các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi do tư nhân và các tổ chức phi chính phủ lập nên. Mỗi trung tâm tùy vào điều kiện vật chất mà có quy mô và tính chất sử dụng khác nhau. * Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi trực thuộc nhà nước: là CSBTXH do cơ quan nhà nước quản lý,đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chỉ thường xuyên.
Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi trực thuộc nhà nước thường đảm bảo được các điều kiện theo Nghị định 68/2008/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động của CSBTXH ~ Môi trường và vị trí Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mỗ côi trực thuộc nhà nước được đặt tại địa điểm thuận tiện về tiếp cận giao thông,trường học,bệnh viện,không khí trong lành có lợi cho sức khỏe của trẻ,có điện,nước sạch phục vụ cho sinh hoạt. ~ Cơ sở vật chất Phải có diện tích đất tự nhiên: bình quân 30 m2/đối tượng ở khu vực nông thôn, 10 m2/đối tượng ở khu vực thành thị. Đối với trung tâm chăm sóc,nuôi dưỡng từ 25 đối tượng trở lên phải có khu nhà ở, khu nhà bếp, khu làm việc của cán bộ nhân viên, khu vui chơi giải trí, hệ thống cấp thoát nước, điện đường đi nội bộ, khu sản xuất và lao động trị liệu ( nếu có điều kiện ). Đối với trung tâm chăm sóc,nuôi dưỡng từ 10 đến 25 đối tượng phải đảm bảo điều kiện cơ bản về nhà ở,nhà bếp,nhà làm việc của cán bộ công nhân viên điện, nước sinh hoạt hàng ngày.
Các công trình, trang thiết bị phai dam bao dé trẻ tiếp cận và sử dụng thuận 10 tiện. - Chăm sóc nuôi dưỡng Trẻ được đảm bảo mức sống theo quy định tại nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các ĐTBTXH, được chăm sóc sức khỏe, được học văn hóa, được học nghề (đối với trẻ từ 13 tuôi trở lên), được cung cắp thông tin, được vui chơi giải trí và được giao lưu với cộng đồng và tái hòa nhập gia đình cộng đồng.