ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay ở nước ta và nhiều quốc gia trên thế giới, để đánh giá chất lượng nước (CLN), ô nhiễm nước sông, kênh rạch, ao hồ, nước biển, người ta thường dựa vào việc phân tích các thông số (parameter) CLN riêng biệt, rồi so sánh từng thông số đó với giá trị giới hạn được quy định trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài ưu điểm là đánh giá được chất lượng nước theo từng thông số, phương pháp này vẫn còn một số nhược điểm, bao gồm: - Khó phân loại CLN cho một mục đích sử dụng nào đó, chẳng hạn, TCVN 5942-1995 quy định CLN sông (loại A - đạt tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt) và cột B (loại B - không đạt tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt, chỉ có thể dùng cho các mục đích khác) đối với oxy hoà tan (DO), chất rắn lơ lửng (SS) và tổng coliform (TC) tương ứng như sau: DO = 6 mg/L và 4 mg/L; SS = 20 mg/L và 80 mg/L; TC = 5000 MPN/100mL và 10. Tuy nhiên trong thực tế, con sông này (hoặc đoạn sông này) đạt yêu cầu loại A về DO, nhưng không đạt loại A về SS và TC, còn con sông khác (hoặc đoạn sông khác) đạt yêu cầu loại A về SS, nhưng không đạt loại A về DO và TC, hoặc cũng có thể đạt loại A về DO và SS, nhưng TC không đạt cả loại A và B… Mặt khác, đối với một mục đích sử dụng, mỗi thông số có tầm quan trọng khác nhau, chẳng hạn: độ đục và TC rất quan trọng cho mục đích tiếp xúc trực tiếp (tắm, bơi lội), nhưng lại không quan trọng cho mục đích cấp nước cho nông nghiệp; nhiệt độ, độ mặn, NH4+ không quan trọng lắm với nước bãi tắm nhưng rất quan trọng với nước nuôi thủy sản v.v…Rõ ràng, trong những Học viên: Dương Đức Bình Viện KH&CNMT 2 Luận văn Thạc sỹ 2006 - 2008 trường hợp trên, rất khó kết luận CLN của một con sông (hay đoạn sông) đạt loại A hay B và CLN đạt yêu cầu cho mục đích này, nhưng lại không đạt yêu cầu cho mục đích khác. Những điều đó dẫn đến rất khó phân vùng và phân loại CLN sông, khó quyết định về khả năng khai thác sông (hoặc đoạn sông) cho một hoặc một số mục đích sử dụng nào đó… - Khi đánh giá CLN qua nhiều thông số riêng biệt, sẽ không thể nói đến diễn biến CLN tổng quát của một con sông (hay đoạn sông) và do vậy, khó so sánh CLN từng vùng của một con sông, so sánh CLN sông này với sông khác, CLN thời gian này với thời gian khác (theo tháng, mùa), CLN hiện tại so với tương lai… Như vậy, sẽ khó khăn cho công tác giám sát diễn biến CLN, khó đánh giá hiệu quả đầu tư để bảo vệ nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm nước… Mặt khác, khi đánh giá qua các thông số CLN riêng biệt, chỉ các nhà khoa học hoặc nhà chuyên môn mới hiểu được và như vậy, khó thông tin về CLN cho cộng đồng và các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà lãnh đạo để ra các quyết định phù hợp về bảo vệ và khai thác nguồn nước….
Để khắc phục những nhược điểm trên, cần phải có một hoặc một hệ thống chỉ số (*) cho phép lượng hoá được CLN (tức là biểu diễn CLN theo một F 0 thang điểm thống nhất), có khả năng đặc trưng cho tác động tổng hợp của nồng độ nhiều thành phần hóa – lý – sinh trong nguồn nước và tầm quan trọng của mỗi thông số CLN đối với một mục đích sử dụng nào đó. Một trong những chỉ số đó là Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI). WQI là một chỉ số được tính toán từ nhiều thông số CLN riêng biệt theo một phương pháp xác định (hay theo một công thức toán học xác định). (*) Chỉ số (index) được định nghĩa là “sự phân cấp hóa theo số học hoặc theo khả năng mô tả lượng lớn các số liệu, thông tin về môi trường nhằm đơn giản hóa các thông tin này để cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước và công chúng” (L.Canter) Học viên: Dương Đức Bình Viện KH&CNMT 3 Luận văn Thạc sỹ 2006 - 2008 Mô hình WQI được đề xuất và áp dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1965 – 1970[22-24] và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều bang của Mỹ[25 - 27].
Hiện nay, nhiều mô hình WQI đã được triển khai nghiên cứu áp dụng ở nhiều quốc gia Ấn Độ, Canada [28-35], Anh, Đài loan, Úc, Malaixia, Thái Lan,. WQI được xem là một công cụ hữu hiệu đối với các nhà quản lý môi trường trong giám sát CLN, quản lý nguồn nước, đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm nước, cung cấp thông tin ô nhiễm nước cho cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách. Với WQI, dễ áp dụng tin học để quản lý CLN và bản đồ hóa CLN (chẳng hạn, màu hóa CLN theo các thang điểm xác định). WQI cùng với Chỉ số chất lượng không khí (AQI), Chỉ số đa dạng sinh học (BDI).
là những bộ phận hợp thành của Chỉ số Chất lượng Môi trường (EQI). EQI cho phép đánh giá định lượng về chất lượng môi trường của một hệ sinh thái hay một vùng địa lý xác định. Ngoài WQI, trên thế giới và ở nước ta, nhiều viện nghiên cứu và nhà khoa học còn tiếp cận sử dụng chỉ số sinh học (Bioindex - BI) để đánh giá CLN (các phiêu sinh, thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy, động vật bám…). Song, việc lấy mẫu, xác định thành phần loài và mật độ của các loài sinh vật thường khó khăn hơn nhiều và khó chuẩn hóa so với lấy mẫu và phân tích các thông số CLN về mặt hóa – lý.
Do vậy xu thế sử dụng WQI về hóa – lý đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Từ những năm 70 đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm công trình nghiên cứu phát triển và áp dụng mô hình WQI cho quốc gia hay địa phương mình theo một trong 3 hướng: (i) Áp dụng một mô hình WQI có sẵn vào quốc gia / địa phương mình; (ii) Áp dụng có cải tiến một mô hình WQI có sẵn vào quốc gia / địa phương mình; Học viên: Dương Đức Bình Viện KH&CNMT 4 Luận văn Thạc sỹ 2006 - 2008 (iii) Nghiên cứu phát triển một mô hình WQI mới cho quốc gia / địa phương mình. Xu thế (i) và (ii) ít tốn kém về nhân lực, thời gian và tài chính, nên phù hợp với các quốc gia đang phát triển. Hiện nay trên thế giới, có trên 30 loại WQI đang được sử dụng.
Đặc biệt, tại Hoa Kỳ, Canada…, WQI được công bố hàng tháng đối với nhiều dòng sông ở từng bang, giúp cho việc quản lý và sử dụng nước rất tiện lợi. Ở Việt Nam, lần đầu tiên phương pháp phân loại chất lượng nước theo các thông số đặc trưng chọn lọc cho từng lưu vực đã được Lê Trình đề xuất trong đề tài "Nghiên cứu xây dựng tập Atlas môi trường TP.Hồ Chí Minh" (1990 - 1991) (chủ nhiệm: Hồng Hải Vý)[8]. Phương pháp phân loại chất lượng nước này đã được tác giả cải tiến và áp dụng cho toàn lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn (1996, 1998, 2004) trong nhiều đề tài cấp Nhà nước. Tập Atlas về phân vùng chất lượng nước khái quát cho lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn cũng đã được xây dựng (1998), theo đó chất lượng nước trong toàn lưư vực được chia thành 5 loại: chưa ô nhiễm, ô nhiễm nhẹ, ô nhiễm trung bình, ô nhiễm nặng, ô nhiễm rất nặng.
Phân bố các loại nước đã được thể hiện trên bản đồ số hóa. Tuy nhiên, do số điểm quan trắc mỏng, tần suất thấp nên việc phân vùng chất lượng nước toàn lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn còn sơ lược, hệ thống phân loại chất lượng nước chưa áp dụng phương pháp tính WQI và chưa lập phần mềm để tính toán. Gần đây trong đề tài "Nghiên cứu đánh giá chất lượng nước mặt trên cơ sở chỉ số chất lượng nước ở một số vùng tỉnh Quảng Trị”, Nguyễn Văn Hợp và CTV đã đề xuất một số hệ thống WQI và thực hiện phân loại, phân vùng chất lượng nước cho các sông ở tỉnh Quảng Trị (2005) và Thừa Thiên Huế (2006)[10]. Các tác giả đã ứng dụng mô hình WQI do Bhargara (Ấn Độ) đề xuất năm 1983.
Học viên: Dương Đức Bình Viện KH&CNMT 5 Luận văn Thạc sỹ 2006 - 2008 Năm 2007, Lê Trình và CTV (Viện Môi trường và Phát triển Bền vững) trong đề tài “Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở vùng Tp. Hồ Chí Minh” (đề tài của Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh) đã ứng dụng và cải tiến các mô hình WQI của Quỹ vệ sinh Quốc gia Hoa Kỳ, của Ấn độ (Bhargara) để thực hiện phân vùng chất lượng nước và đánh giá khả năng sử dụng nước các sông, kênh rạch trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh[12]. Phân loại, phân vùng chất lượng nước về mặt thủy sinh (phiêu sinh động vật, phiêu sinh thực vật và động vật đáy) đã được Nguyễn Văn Tuyên, Phạm Văn Miên thực hiện ở TP.Hồ Chí Minh từ 1990 – 1991.
Bản đồ phân vùng chất lượng nước (sơ bộ) về thủy sinh đã được các tác giả xây dựng. Gần đây nhất (2005), Phạm Văn Miên, Lê Trình và CTV (Viện Môi trường và Phát triển Bền vững) trong đề tài khoa học công nghệ của TP. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu hệ thống hóa và lựa chọn các loài thủy sinh làm chỉ thị sinh học phục vụ đánh giá ô nhiễm nước và phân vùng chất lượng nước sông kênh rạch[11]. Ngoài ra một số tác giả khác (Phạm Văn Đức và CTV) cũng đã nghiên cứu các chỉ thị sinh học trong phân vùng chất lượng nước trong lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn.
Năm 2008 – 2009, lần đầu tiên tại khu vực miền Bắc, Lê Trình và CTV (trong đó có tác giả Luận văn này) trong đề tài khoa học công nghệ của TP Hà Nội “Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước các sông, hồ trên địa bàn TP. Hà Nội theo mô hình chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index – WQI)” đang triển khai nghiên cứu áp dụng mô hình WQI để thực hiện phân vùng chất lượng nước và đánh giá khả năng sử dụng nước các sông hồ trên địa bàn TP. Được sự đồng ý của Chủ trì đề tài này là PGS.