Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý các khoản thu từ đất Chương 2: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng công tác quản lý các khoản thu từ đất trên địa bàn huyện Đan Phượng Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các khoản thu từ đất trên địa bàn huyện Đan Phượng. 47 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT 1. Tổng quan nghiên cứu Đề tài “Giải pháp tăng cường công tác quản lý các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” Trần Đỗ Quyên (2013) trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và một số bài học nghiệm thực tiễn của các tỉnh trên cả nước về công tác quản lý các khoản thu từ đất đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp đối với Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc và kiến nghị với các cấp, ngành có liên quan nhằm tăng cường công tác quản lý các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh cho đến năm 2020.
Đề tài có đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc. Đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở cấp quản lý là Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc, là cơ quan tổng hợp nguồn thu từ đất của các Chi cục thuế trên địa bàn tỉnh. Đàm Thị Thu Hương (2013) với đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách trong việc cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố” đã nghiên cứu cơ sở pháp lý của việc cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Đề tài cũng đã đánh giá về hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức và công tác lập hồ sơ cho các tổ chức kinh tế thuê đất trên địa bàn thành phố.
Qua đó phân tích những vấn đề còn tồn tại, đề xuất giải pháp về chính sách cho thuê đất đối với các tổ chức kinh tế. Nhưng đề tài nghiên cứu đối với một phạm vi rộng là của thành phố Hải Phòng, do điều kiện về kinh tế - xã hội hoàn toàn khác so với đề tài nghiên cứu dưới đây nên việc tiếp cận và áp dụng những giải pháp này đối với huyện Đan Phượng là điều rất khó. Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định giá thuê đất cho các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố 48 z Hà Nội” của Lương Đại Tôn (2012) tìm hiểu quy định về giá đất, các phương pháp định giá đất và cơ chế chính sách liên quan đến việc xác định đơn giá thuê đất, thực trạng về việc áp dụng các phương pháp xác định đơn giá thuê đất trên địa bàn TP Hà Nội, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định đơn giá thuê đất trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tuy nhiên thời gian nghiên cứu của đề tài chỉ dừng đến năm 2011.
Từ năm 2011 đến giờ đã có nhiều thay đổi trong chính sách liên quan đến việc xác định đơn giá thuê đất. Đề tài cấp cơ sở của Nguyễn Thị Dung (2012) “Pháp luật về giao đất, cho thuê đất ở nước ta – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” tóm tắt một số nội dung chủ yếu liên quan đến thực tiễn thi hành pháp luật về giao đất, cho thuê đất, những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao đất, cho thuê đất đã góp phần cung cấp nguồn thông tin khoa học phục vụ việc nghiên cứu, sửa đổi bổ sung Luật đất đai 2003. Nguyễn Thị Hoài (2012) với đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giao đất, cho thuê đất tại huyện Thạch Thất – TP Hà Nội” đánh giá thực trạng thực hiện công tác giao đất, cho thuê đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Thạch Thất. Phạm Thị Hồng Kiên (2013) có đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”.
Đỗ Văn Duy (2014) với đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”. Hai đề tài này đã nghiên cứu, đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đối với các địa bàn kinh tế khác nhau của tỉnh Quảng Ninh, tuy nhiên mới dừng lại ở phạm vi tổ chức kinh tế. 49 z Đề Tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” Đào Ngọc Sơn (2013) dựa trên lý thuyết và thực tiễn liên quan tới cơ chế quản lý thuế nhà đất từ năm 2008 đến 2012, làm rõ vai trò của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với quản lý nhà đất, đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Ngoài ra, cũng có một số đề tài nghiên cứu khác về công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại Cục thuế tỉnh Phú Thọ” Hoàng Thị Tuyết Thanh (2015), “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tại Tỉnh Quảng Ninh” Triệu Thị Hằng (2014).
Các đề tài này đều dựa trên nghiên cứu thực trạng quản lý tại địa phương, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, nhưng đều nghiên cứu trên địa bàn tỉnh, tầm bao quát, chưa mang tính sâu xát, trực tiếp như ở cấp huyện, do chi cục thuế quản lý. Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu giá quyền sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa” của Phùng Ngọc Phương và cộng sự (2011) đã triển khai nghiên cứu trên địa bàn huyện Đông Anh – TP Hà Nội, từ đó đánh giá thực trạng đấu giá quyền sử dụng đất, những khó khăn, vướng mắc về mặt quy hoạch, về quy trình, thủ tục thực hiện, về quản lý đất đai và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quả của công tác đấu giá quyền sử dụng đất trong quá trình đô thị hoá. Đào Thị Thanh Lam và cộng sự (2013) cũng có đề tài “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất” đã đánh giá thực trạng ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc quản lý và sử dụng đất. Nhóm tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp về chính sách, kỹ thuật và về tổ chức thực hiện nhằm tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về 50 z đất đai, hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong quá trình đô thị hóa.
Luận án “Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Hà Nội” Trần Tú Cường (2007) đã khái quát hóa các vấn đề lý luận về quan hệ sử dụng đất, vấn đề đô thị hóa và vai trò quản lý Nhà nước đối với đất đai. Tác giả đã nêu lên những tồn tại, bất cập trong quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa và chỉ ra được nguyên nhân của các bất cập đó. Ngô Tôn Thanh (2012) với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Đình”. Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về đất đai ở một địa phương cấp thị xã đang trong quá trình đô thị hóa, nhận diện được các vấn đề về quản lý nhà nước về đất đai cùng với các nguyên nhân của nó, đã đề xuất các giải pháp để công tác quản lý nhà nước về đất đai được tốt hơn.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên có đề cập ở mức độ nhất định về quản lý thu thuế và quản lý đất đai. Tuy nhiên, những đề tài trên chủ yếu mới đề cập ở góc độ quản lý đất đai về phía cơ quan tài nguyên, chính quyền quản lý; chỉ phân tích, đánh giá riêng lẻ công tác quản lý một trong các khoản thu từ đất hoặc có phân tích, đánh giá một cách toàn diện về công tác quản lý các nguồn thu từ đất đai nhưng mới trên phương diện quản lý của Cục thuế. Chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu công tác quản lý các khoản thu từ đất ở cấp độ Chi cục thuế, cơ quan quản lý thu trực tiếp các khoản thu này. Cơ sở lý luận về quản lý các khoản thu từ đất 1.
Khái niệm, đặc điểm các nguồn thu từ đất đai và vai trò của nguồn thu ngân sách Nhà nước từ đất đai 1. Khái niệm Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.” Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm 2003 đã khẳng định lại một cách nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Khoản 1 Điều 107 Luật đất đai năm 2013 quy định các khoản thu tài chính từ đất đai bao gồm: - Tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất mà phải nộp tiền sử dụng đất; - Tiền thuê đất khi được Nhà nước cho thuê; - Thuế sử dụng đất; - Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; - Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; - Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai; - Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai. Đặc điểm các khoản thu ngân sách nhà nước từ đất Đặc điểm các khoản thu từ đất đai (Nguyễn Thị Cúc, 2013) bao gồm: 52 z Thứ nhất, nguồn thu từ đất gồm nhiều khoản thu trong hệ thống thuế Nhà nước.