phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về thực thi chính sách tiết kiệm điện Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách tiết kiệm điện trên địa bàn quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực thi chính sách tiết kiệm điện trên địa bàn quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội, 9 e CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIẾT KIỆM ĐIỆN 1. Năng lƣợng điện và chính sách tiết kiệm điện 1. Năng lượng điện Năng lượng là một trong những vấn đề mang tính sống còn của nhân loại và đó là vấn đề không của riêng một quốc gia nào.
Năng lượng được định nghĩa là năng lực làm vật thể hoạt động. Có nhiều dạng năng lượng như động năng, nhiệt năng.Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất xuất phát từ hai nguồn chủ yếu: Năng lượng mặt trời và năng lượng lòng đất. Tài nguyên năng lượng có thể được phân thành hai dạng: Năng lượng tái tạo và năng lượng không tái tạo. Tài nguyên năng lượng tái tạo gồm sức nước, sức gió, ánh sáng mặt trời, năng lượng sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả năng tái tạo.
Tài nguyên năng lượng không tái tạo gồm than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên, quặng urani và các tài nguyên năng lượng khác không có khả năng tái tạo. Có nhiều nguồn tạo ra năng lượng và năng lượng điện. Hiện nay, các loại nguồn năng lượng được sử dụng: Than, Hạt nhân, Dầu khí tự nhiên, Năng lượng mặt trời, Năng lượng (Điện) Gió, Địa nhiệt, Thủy điện, Khí Sinh học, Đại dương, Hydro… Điện năng là dạng năng lượng được sinh ra từ các nguồn (nhà máy phát điện) như: Thủy điện, nhiệt điện (điện than, điện dầu, điện khí, điện mặt trời, điện hạt nhân. Điện năng có vai trò rất quan trọng trong xã hội, bởi vì điện năng là dạng năng lượng phục vụ cho cuộc sống con người trong sản xuất và sinh hoạt.
Điện năng là yếu tố đầu vào quan trọng cho các lĩnh vực sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp, thương mại.) và cho sinh hoạt hàng ngày của con người. 10 e Năng lượng là một trong những điều kiện tối kiên quyết đối với sự sống còn và phát triển của mỗi còn người và toàn nhân loại. Trong những năm qua tình hình tiêu thụ năng lượng trên thế giới tăng liên tục cùng với sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Kể từ những năm 2000, tình trạng tiêu thụ năng lượng hóa thạch có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao và đang dần cạn kiệt, nguồn năng lượng hóa thạch vẫn chiếm 90% tổng nhu cầu về năng lượng cho đến năm 2025.
Tạp chí Thống kê Năng lượng thế giới BP (BP Statistical Review of World Energy) cho biết, than là nguồn nguyên liệu hóa thạch duy nhất đạt vượt mức trung bình trên thế giới 5,4%, trong khi tiêu thụ hạt nhân giảm mức kỷ lục 4,3%. Cụ thể là, tiêu thụ hạt nhân tại Nhật Bản giảm 44,3% và tại Đức giảm 23,2%. Sử dụng than tại khu vực châu Á tăng cao, đặc biệt là Trung Quốc đạt mức 9,7%, chiếm 69% mức tăng trưởng sử dụng than trên toàn cầu. Tại các nước không thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế (Qrganization for Economic Cooperation and Development - OECD), con số này là 6,1%.
Dầu mỏ vẫn là nguồn nguyên liệu được sử dụng nhiều nhất trên thế giới [15]. Mỹ là nước tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới (24,6% thế giới), khí đốt (16% thế giới), lượng dầu tiêu thụ tại Trung Quốc trong 40 năm qua tăng 25 lần, chiếm 8,55% thế giới. Các nước Tây Âu tiêu thụ 22% dầu thế giới, trong đó Đức nhập khẩu khí đốt lớn thứ hai thế giới (14%); ASEAN cũng đang thiếu năng lượng trầm trọng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa. Việc sử dụng năng lượng hóa thạch ngày càng nhiều đồng nghĩa với việc không đủ năng lượng cho sinh hoạt, sản xuất ra các sản phẩm cho con người và giá sinh hoạt tăng cao, đồng thời làm phát ra nhiều khí thải ảnh hưởng đến tầng ozon của bầu khí quyển trái đất, gây ra hiệu ứng nhà kính làm trái đất ấm dần lên.
Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường sống của toàn nhân loại. Vì vậy, tất cả các nước trên thế giới đều có chính sách sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, tình trạng tăng mức độ tiêu thụ có một ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa. 11 e Theo đánh giá và nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết hợp với Ngân hàng thế giới (World Bank) để Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2035, Việt Nam cần đạt mức tăng GDP bình quân đầu người tối thiểu 6%/năm. Nhu cầu sử dụng điện của Việt Nam cũng sẽ tăng trung bình 8,2%/năm trong 20 tới.
Đây là mức tăng trưởng rất cao đòi hỏi sự đầu tư lớn về nguồn và lưới điện. Quá trình công nghiệp hóa đã đẩy mạnh nhu cầu tiêu thụ năng lượng nói chung và điện năng nói riêng tại Việt Nam. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức cao, điều này làm mức sống người dân tăng lên nhưng cũng khiến nhu cầu điện tăng mạnh theo từng năm, đôi lúc vượt quá khả năng cung cấp điện hiện tại. Hiện nay cơ cấu tiêu thụ điện tại Việt Nam: ngành công nghiệp và kiến trúc chiếm khoảng 51%; sinh hoạt 40%; thương nghiệp và dịch vụ 5%; nông nghiệp, thủy sản 1% và còn lại là 3%.
Kéo theo việc tăng trưởng kinh tế là sự chuyển đổi từ nền kinh tế lấy nông nghiệp là trọng tâm sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ. Cùng với đó là nhu cầu xây dựng khu công nghiệp và nhà máy của công ty nước ngoài cho nên nhu cầu điện trong công nghiệp ngày càng gia tăng. Mức sống được cải thiện làm thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu sử dụng điện cá nhân. Tại thời điểm năm 2011 Việt Nam với lượng tiêu thụ điện trong 1 năm của 1 người trung bình là 800kw, đến năm 2020 con số này có thể sẽ lên tới 2.
Theo dữ liệu thống kê được, bình quân mỗi năm lượng điện sản xuất tăng khoảng 13% nhưng nhu cầu điện của Việt Nam được dự đoán mỗi năm tăng khoảng 16-17%, vì vậy ngành công nghiệp sản xuất điện sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng cung không đáp ứng cầu. Chính sách tiết kiệm điện Chính sách năng lượng của các quốc gia đề cập đến tất cả các nguồn năng lượng bao gồm cả nguồn năng lượng tái tạo và không tái tạo. Và mục tiêu của các chính sách đó là tạo nên một trật tự thế giới, quốc gia có năng 12 e lượng bền vững để đáp ứng nhu cầu hiện tại của con người cũng như cho các thế hệ mai sau. Những nước phát triển cũng đang đối mặt trực diện với năng lượng và sự thiếu hụt năng lượng.
Các quốc gia nghèo, mới phát triển hoặc đang phát triển cũng tương tự. Do đó, không có quốc gia nào lại không có chính sách về năng lượng và một chính sách hay một số chính sách, chương trình cụ thể là chính sách tiết kiệm năng lượng, bao gồm tất cả các loại năng lượng, trong đó có điện năng. Các chính sách đó thể hiện cách tiếp cận, tư duy của các quốc gia về năng lượng; sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và hiệu quả. Và đó cũng trở thành chính sách cụ thể là chính sách tiết kiệm năng lượng.
Pháp luật Việt Nam về năng lượng cũng đã ban hành với tên gọi rất cụ thể là Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Đây là văn bản thể hiện nhiều nội dung của chính sách năng lượng và tiết kiệm sử dụng năng lượng nói chung trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Tiêu dùng năng lượng nói chung và năng lượng điện nói riêng không ngừng gia tăng và cũng không nhận thấy xu hướng giảm trong tương lai. Sự gia tăng tiêu dùng năng lượng từ nhiều yếu tố vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan của xã hội loài người gây ra.
Một là, dân số thế giới nói chung và dân số của từng quốc gia, trong đó có Việt Nam không ngừng gia tăng. Theo tổ chức năng lượng quốc tế (the International Energy Agency- IEA), mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người tăng 10% trong giai đoạn 1990-2008. Hai là, xu hướng đô thị hóa cũng là yếu tố làm cho tiêu thụ năng lượng nói chung và năng lượng điện nói riêng gia tăng. Đối với cuộc sống đô thị, nhu cầu về năng lượng nói chung và năng lượng điện nói riêng gia tăng.
Từ năng lượng chiếu sáng đến năng lượng phục vụ cuộc sống gia đình, công sở và các loại phương tiện giao thông,v. Khi mức độ đô thị hóa của Việt Nam còn thấp, nhu cầu năng lượng và đặc biệt là điện cho các vùng nông thôn sẽ 13 e không tăng. Tuy nhiên điện khí hóa mọi lĩnh vực của đời sống đô thị làm cho nhu cầu năng lượng gia tăng; Ba là, cuộc cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa nông nghiệp cũng là yếu tố gia tăng nhu cầu tiêu dùng năng lượng nói chung và năng lượng điện nói riêng. Nhu cầu về xây dựng; về giao thông; các nhà máy, cơ sở sản xuất hàng hóa và dịch vụ gia tăng tiêu thu năng lượng.
Cùng với sự gia tăng tiêu dùng năng lượng, các quốc gia lại gặp nhiều thách thức về cung cấp và tiêu thụ điện Trên lĩnh vực năng lượng điện, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng điện ngày càng gia tăng. Trong khi đó nguồn cung cấp điện không theo kịp nhu cầu tiêu thụ và sử dụng điện. Theo ENV và ngân hàng thế giới nhận định để đảm bảo cung cấp điện với tốc độ tăng trưởng nhanh như hiện nay Việt Nam cần đầu tư nguồn vốn rất lớn. Trong giai đoạn 15 năm tới, tổng vốn đầu tư cho ngành điện khoảng 150 tỷ USD, trong đó đầu tư nguồn sản xuất chiến 75%.
Trung bình mỗi năm ngành điện phải huy động vốn đầu tư 10 tỷ USD để đầu tư nâng cấp và xây dựng hệ thống điện. Theo QHĐ 7 điều chỉnh tháng 3 năm 2016 vào năm 2020 cơ cấu nguồn điện là 60.000MW và tăng lên 129. Trong đó có đầy đủ các nguồn: thủy điện, nhiệt điện (than, khí), năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối), điện hạt nhân và nhập khẩu. Tháng 11 năm 2016 Quốc hội thông qua chủ trương dừng thực hiện Dự án điện hạt nhân tại Ninh Thuận (4.600 MW), một số dự án dừng triển khai thực hiện: Nhiệt điện Bạc Liêu (1.