ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi công nghiệp, kháng sinh đóng vai trò quan trọng không chỉ trong phòng trị bệnh mà còn được sử dụng như chất kích thích sinh trưởng của vật nuôi. Từ những năm 50, kháng sinh đã được sử dụng nhằm kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi lợn và gia cầm. Tuy nhiên, sử dụng không đúng nguyên tắc và lạm dụng kháng sinh đã và đang làm giảm tác dụng phòng và trị bệnh của kháng sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Chính vì thế, từ tháng 1 năm 2006, Ủy ban Châu Âu đã cấm sử dụng kháng sinh nhằm mục đích kích thích sinh trưởng (chỉ thị 1831/2003/EC).
Trong thập kỷ qua, nhiều nghiên cứu tập trung vào tìm kiếm các phương pháp thay thế sử dụng kháng sinh cũng như tìm kiếm các chất vừa có khả năng kích thích sinh trưởng, an toàn, thân thiện để giảm nguy cơ mắc bệnh đường ruột cho vật nuôi và cải thiện chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng như chế phẩm probiotic, prebiotic, symbiotic, enzymes, axit hữu cơ và các chất phụ gia khác đã và đang được phát triển. Tác dụng tích cực của probiotic được chứng minh thông qua khả năng kích thích tính thèm ăn (Nahashon et al., 1994), cải thiện, thiết lập cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột (Fuller, 1989), cải thiện chức năng tiêu hóa (Collins et al. Ngoài ra, probiotic kích thích hệ miễn dịch (Perdigon et al., 1999; Collins et al. Vì vậy, trong chăn nuôi, đặc biệt chăn nuôi công nghiệp, sử dụng probiotic để cải thiện sức khỏe đường ruột qua đó cải thiện sức khỏe và sức sản xuất của vật nuôi (Block et al.
Tuy nhiên, vẫn còn có những tranh luận về tác dụng của probiotics. Nghiên cứu của Maxwell et al. (1983); Hong et al. (2002) cho rằng bổ sung probiotic chứa Lactobacillus sp.
có tác động tốt đến khả năng tiêu hóa. Một số nghiên cứu khác lại cho rằng bổ sung probiotic có chứa Lactobacillus hoặc Bacillus không ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn thí nghiệm (Hale et al., 1979; Kornegay et al. Những kết luận trái ngược này có thể do có sự khác nhau về đặc tính của vi sinh vật trong chế phẩm, điều kiện bảo quản, và cách thức sử dụng chế phẩm probiotics. Ở Việt Nam, sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi đang ngày càng được quản lý chặt chẽ.
Đến 15 tháng 7 năm 2016, số lượng các loại kháng sinh được cho phép có mặt trong thức ăn chỉ còn 15 loại (Bộ NN&PTNT, 2016) và sẽ cấm hoàn toàn vào năm 2018. Do đó, sử dụng probiotic ngày càng được các nhà 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học, cơ quan quản lý và người chăn nuôi quan tâm. Hiện nay, trên thị trường có nhiều sản phẩm probiotic nhưng đa số sử dụng bằng cách đưa trực tiếp vào thức ăn hoặc nước uống. Bacillus Weaner là một trong những sản phẩm mới chứa bào tử vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt của công ty BioSpring với ưu điểm có thể sử dụng trộn vào thức ăn trong các nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp.
Trong các loại vật nuôi, lợn con thoe mẹ là một trong những đối tượng vật nuôi rất mẫn cảm với hội chứng tiêu chảy. Đặc biệt, thực tế trong chăn nuôi nước ta thường được tập ăn từ rất sớm khoảng 3 - 5 ngày tuổi, trong điều kiện vệ sinh thú y kém nên việc mắc tiêu chảy là rất phổ biến. Việc sử dung men vi sinh được cho là giải pháp hiệu quả đối với lợn con theo mẹ. Trước đòi hỏi của thực tiễn và bối cảnh trên, để có cơ sở khuyến cáo đưa vào thực tiễn, việc đánh giá “Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic Bacillus Weaner vào thức ăn đến một số chỉ tiêu năng suất và sức khỏe đường ruột của lợn con 1 đến 56 ngày tuổi” là rất cần thiết.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá được hiệu quả bổ sung chế phẩm Bacillus Weaner vào khẩu phần thức ăn đến một số chỉ tiêu năng suất và sức khỏe đường ruột trên lợn con giai đoạn từ 1 – 56 ngày tuổi. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Kết quả đề tài làm cơ sở để các doanh nghiệp ứng dụng trong phát triển sản xuất thức ăn chăn nuôi ép viên có bổ sung probitotic; phát triển chăn nuôi lợn, góp phần làm tăng năng suất chăn nuôi lợn. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở LỢN CON 2. Đặc điểm sinh trưởng ở lợn con Sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính. Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước. “Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và sự phân chia của các tế bào trong cơ thể”.
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức cơ thể luôn hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống. Lợn con sau sinh có tốc độ sinh trưởng rất nhanh. Tốc độ sinh trưởng được thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể.
Thông thường khối lượng lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần khối lượng sơ sinh và 30 ngày tuổi tăng gấp 5 lần. Khối lượng lợn con đạt được ở các thời điểm như: sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng có mối tương quan thuận khá chặt chẽ, nghĩa là khối lượng lúc sơ sinh càng cao thì có khả năng khối lượng lúc cai sữa cao (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Nhuận, 2005). Nếu lợn sơ sinh hơn nhau 0,5kg thì tương đương với 1kg hơn nhau ở thời điểm cai sữa và nếu khối lượng ở thời điểm cai sữa hơn nhau 0,1kg thì ở thời điểm đạt khối lượng giết thịt sẽ sớm hơn 1 ngày. Lợn con nuôi trong giai đoạn cai sữa nếu tăng trọng bình quân mỗi ngày thêm 5g thì thời điểm đạt khối lượng giết thịt sẽ sớm hơn 1 ngày.
Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con Khả năng điều tiết thân nhiệt của gia súc non rất kém; do đó, lợn con rất nhạy cảm với sự thay đổi của khí hậu bên ngoài, nhất là nhiệt độ lạnh dễ làm lợn con bị bệnh. Gia súc non từ 15 – 20 ngày tuổi thân nhiệt mới ổn định (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2006). 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nước ta tuy là xứ nóng nhưng phải chống lạnh cho lợn con mới sinh đến cai sữa vì nhiệt độ ban đêm thường dưới 300C. Cơ thể lợn con chống lạnh bằng cách nâng cao chuyển hóa cơ bản, tăng sinh nhiệt nhưng không kéo dài được.
Nhiệt độ cơ thể của lợn con sau khi đẻ giảm xuống phụ thuộc vào khối lượng sơ sinh, số lượng, chất dinh dưỡng thu được và nhiệt độ môi trường. Khi còn trong cơ thể mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai được xác định do thân nhiệt của lợn mẹ. Sau khi sinh, cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt bị mất đi nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh phân trắng lợn con. Trong tuần lễ đầu, thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường.
Ở hai ngày đầu, nếu nhiệt độ môi trường từ 5 – 60C, lợn con có thể chết do lạnh và mất nhiệt. Khả năng điều tiết nhiệt ở lợn con trong 3 tuần tuổi đầu còn rất kém do thân nhiệt chưa ổn định. Nguyên nhân chủ yếu do lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen được dự trữ trong cơ thể lợn con còn ít nên khả năng cung cấp năng lượng để chống rét bị hạn chế. Mặt khác, lông mao trên cơ thể lợn con còn thưa nên khả năng giữ nhiệt kém.
Do đó, khi nuôi lợn con trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, thân nhiệt của lợn con sẽ giảm nhanh làm cho lợn con dễ bị cảm lạnh, hay bị ỉa chảy và ỉa phân trắng. Sau 3 tuần tuổi, thân nhiệt lợn con mới tương đối ổn định (39,0 - 39,50C), khả năng điều hòa thân nhiệt tốt dần để đáp ứng với môi trường bên ngoài. Nhiệt độ môi trường thích hợp đối với lợn con lúc sơ sinh là 340C; 2 ngày tuổi là 300C; 14 ngày tuổi là 270C với độ ẩm không khí khoảng 60%, riêng nhiệt độ dưới chụp sưởi của lợn con phải đạt 32 – 350C. Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 380C, sau 10 ngày tăng lên 39,5 - 39,70C và giữ ở mức đó.
Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 10C. Chuồng lạnh là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp làm lợn mẹ đè chết con; do đó, tỷ lệ chết của lợn con cao. Lợn chết trong 48 giờ là 12,1% khi nhiệt độ chuồng nuôi là 20 - 250C và tỷ lệ chết là 7,7% khi nhiệt độ chuồng nuôi lớn hơn 250C (Vũ Duy Giảng, 2001). Lợn con dưới 3 tuần tuổi, nếu nuôi ở nhiệt độ chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt của lợn con giảm xuống 20C so với thân nhiệt ban đầu.
Khi nhiệt độ chuồng nuôi giảm xuống 00C thì thân nhiệt lợn con giảm xuống 40C. Khi khối lượng sơ sinh trung bình của lợn con là 1,13kg được nuôi ở trong chuồng nuôi có nhiệt độ 16 – 210C thì sau 30 phút thân nhiệt lợn con bị giảm xuống 1,60C nhưng lợn con có khối lượng trung bình 2,4kg nuôi trong điều kiện là – 40C thì thân nhiệt giảm 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều này chứng tỏ khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con ít phụ thuộc vào khối lượng sơ sinh mà chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi và tuổi lợn con. Đặc điểm tiêu hóa của lợn con Đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa của lợn con đó chính là sự phát triển rất nhanh song chưa hoàn thiện.
Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa. Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một số enzyme trong đường tiêu hóa lợn con bị hạn chế.