chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xác định được đóng góp về khía cạnh thực tiễn của nghiên cứu và đề ra bố cục dự kiến của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Khái niệm Mobile Banking Theo nghiên cứu của Ramli và Rahmawati (2020), Mobile Banking là dịch vụ được các tổ chức tài chính hoặc ngân hàng cung cấp, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch tài chính từ xa bằng các thiết bị thông minh thông qua dịch vụ này. Mobile Banking hoạt động liên tục trong 24 giờ và tùy thuộc vào sự kết nối Internet hoặc dữ liệu di động của thiết bị.
Theo Prastiawan và ctg. (2021), Mobile Banking là một kênh dịch vụ tiện lợi do các tổ chức ngân hàng cung cấp, sử dụng dưới dạng nền tảng hiện đại hoàn toàn, dựa trên công nghệ kĩ thuật số và thay thế hình thức tương tác truyền thống giữa ngân hàng và khách hàng. Khái niệm về hành vi người tiêu dùng Hành vi người tiêu dùng được nghiên cứu nhằm hiểu rõ việc mua hay không mua một sản phẩm cụ thể dựa trên hành vi tiêu dùng của họ. Theo David và Albert (2000) định nghĩa, hành vi người tiêu dùng là quá trình mà cá nhân đưa ra quyết định và thực hiện hành động liên quan đến việc xem xét, mua, sử dụng hoặc từ bỏ các sản phẩm và dịch vụ.
Tương tự, theo quan điểm Leon và Leslie (1997), hành vi người tiêu dùng là tất cả những gì họ làm khi mua bán sản phẩm, bao gồm việc đánh giá, tìm hiểu, mua hàng, sử dụng và quyết định bỏ đi sản phẩm hoặc dịch vụ để thoả mãn thị hiếu của họ. Theo nghiên cứu của Kotler và Armstrong (2000), những người kinh doanh thường tìm hiểu về hành vi người tiêu dùng để biết được thói quen, sở thích và thị hiếu của khách hàng. Cụ thể, người làm kinh doanh quan tâm đến việc người tiêu dùng muốn mua gì, phương thức mua hàng, nơi mua hàng, thời điểm mua hàng, tần suất mua, lý do họ chọn sản phẩm hoặc dịch vụ đó và lý do họ ưa chuộng thương hiệu đó để triển khai chiến lược tiếp thị nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của mình. Mô hình lý thuyết liên quan đến hành vi người tiêu dùng 2.
Thuyết Hành động hợp lí (TRA) Thuyết Hành động hợp lí (TRA) của Fishbein và Ajzen ra đời năm 1975, được nhóm tác giả điều chỉnh và bổ sung theo thời gian. Mô hình lý thuyết này tập trung phân tích hành vi của người tiêu dùng và xác định xu hướng hành vi của họ. Trong đó, xu hướng hành vi bao gồm cả thái độ hướng tới hành vi, chẳng hạn như cảm nhận chung về sự yêu thích hoặc không yêu thích, cũng như yếu tố xung quanh, ví dụ như tác động của người khác đối với việc thực hiện hành vi. Mô hình thuyết Hành động hợp lí Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975) 2.
Thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) Ajzen (1991) đã cho ra đời thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) nhằm khắc phục những hạn chế từ thuyết Hành động hợp lí (TRA) bằng việc đưa thêm vào mô hình yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức. Lý thuyết trước đó hạn chế ở chỗ nó cho rằng con người hoàn toàn kiểm soát hành vi của mình bằng lí trí, nhưng ở lý thuyết TPB nhân tố trọng tâm chính là ý muốn thực hiện một hành vi của bản thân. Theo thuyết Hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991), tác giả cho rằng quyết định thực hiện một hành vi cụ thể sẽ bị chi phối bởi ba yếu tố như Thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan và Nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi. Mô hình thuyết Hành vi có kế hoạch Nguồn: Ajzen (1991) 2.
Mô hình Chấp nhận công nghệ (TAM) Xuất phát từ nền tảng của Thuyết hành động hợp lí (TRA), Davis và ctg. Mô hình này được áp dụng để giải thích ý định thực hiện quyết định trong ngành công nghệ thông tin. Theo mô hình TAM, hai yếu tố quan trọng là Nhận thức sự hữu ích và Nhận thức dễ sử dụng có ý nghĩa quan trọng đối với sự chấp nhận của người tiêu dùng về một sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Mô hình Chấp nhận công nghệ Nguồn: Davis và ctg.
Lý thuyết Thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Venkatesh và ctg. (2003) tạo ra mô hình lý thuyết UTAUT do để xem xét sự chấp nhận công nghệ. Việc sử dụng công nghệ thực tế được xác định bởi ý định hành 11 vi trong mô hình này. Việc nhận thức về khả năng áp dụng công nghệ phụ thuộc vào tác động trực tiếp của bốn yếu tố chính, đó là hiệu quả mong đợi, nỗ lực mong đợi, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận lợi.
Hiệu quả của các yếu tố dự đoán được điều chỉnh theo độ tuổi, giới tính, kinh nghiệm và mức độ tự nguyện sử dụng. Tóm lại, đây được coi là sự tổng hợp của các mô hình trước đó, mô hình UTAUT cung cấp một khuôn khổ toàn diện để hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng và sử dụng công nghệ. Mô hình lý thuyết Thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ Nguồn: Venkatesh và ctg. Nghiên cứu thực nghiệm 2.
Nghiên cứu trên thế giới Priya, Gandhi và Shaikh (2018) có bài báo phân tích về việc sử dụng dịch vụ Mobile Banking của nhóm đối tượng người tiêu dùng trẻ ở Ấn Độ. Tác giả đã tiến hành khảo sát 269 người trong độ tuổi từ 23 đến 30. Kết quả xác nhận rằng có 4 yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trẻ Ấn Độ về ý định sử dụng đó là Cảm nhận độ tin cậy; Nhận thức dễ sử dụng; Nhận thức sự hữu ích; Sự đảm bảo về cấu trúc. 12 McGovern, Lambert và Verrecchia (2019) phân tích về người tiêu dùng có ý định sử dụng dịch vụ Mobile Banking tại Ireland.
Tác giả thực hiện khảo sát 244 người theo phương pháp lấy mẫu phi xác suất để xem xét mối tương quan giữa các yếu tố được đề xuất và ý định hành vi của người tiêu dùng. Kết quả xác nhận rằng có 6 nhân tố tác động đến ý định sử dụng Mobile Banking tại Ireland đó là Khả năng tương thích; Lòng tin; Nhận thức dễ sử dụng; Nhận thức rủi ro; Nhận thức sự hữu ích; Sự hiệu quả. Nghiên cứu của Aqilah và Fathoni (2023) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn sử dụng Mobile Banking ở Indonesia. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích xem xét cả mô hình bên trong lẫn bên ngoài và kiểm định giả thuyết bằng SmartPLS 3.9, mẫu nghiên cứu là 200 khách hàng tại Sharia Bank, Indonesia.
Kết quả xác nhận rằng các yếu tố có tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking đó là Cảm nhận độ tin cậy; Nhận thức dễ sử dụng; Nhận thức sự hữu ích; Yếu tố xã hội. Mamun và ctg. (2023) có bài báo phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng Mobile Banking ở Bangladesh. Dữ liệu nghiên cứu được khảo sát từ 630 khách hàng trong 6 tháng bằng cách sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúc.
Phương pháp lấy mẫu thuận tiện, người được khảo sát đến từ các ngân hàng ở quận Pabna, Bangladesh. Dữ liệu được kiểm tra thông qua phân tích yếu tố EFA, kiểm tra KMO và Bartlett, kiểm tra độ tin cậy. Kết quả xác nhận rằng có 5 nhân tố tác động đến ý định sử dụng Mobile Banking tại Bangladesh đó là Dễ dàng tiếp cận; Rủi ro; Sự thuận tiện sử dụng; Chi phí; Lợi thế so sánh. Nghiên cứu Việt Nam Lê Thị Hương Quỳnh và Lê Hoằng Bá Huyền (2018) có bài báo phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking của khách hàng tại AgriBank Thanh Hóa.
Dựa trên sự phát triển khung lý thuyết từ mô hình TAM và mô hình UTAUT, tác giả đã gửi 300 phiếu khảo sát đến các đối tượng tham gia khảo sát. Kết quả xác nhận rằng có 6 nhân tố có tác động đến ý định sử dụng 13 Mobile Banking tại Agribank Thanh Hóa đó là Ảnh hưởng xã hội; Hiệu quả mong đợi; Khả năng tương thích; Nhận thức chi phí giao dịch; Nhận thức dễ sử dụng; Nhận thức sự tin cậy. Trần Thu Thảo và ctg. Nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát trên 307 người dân từ 18 đến 60 tuổi ở TP.
Thông qua phần mềm SPSS 20, tác giả tiến hành phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích EFA và phân tích hồi quy. Kết quả xác nhận rằng có 5 nhân tố tác động đến ý định sử dụng Mobile Banking đó là Ảnh hưởng xã hội; Hình ảnh nhà cung cấp; Nhận thức sự hữu ích; Cảm nhận về chi phí; Nhận thức dễ sử dụng. Bùi Văn Thụy, Nguyễn Thị Như Quỳnh và Trương Anh Minh (2021) phân tích về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking của KHCN tại ACB Đồng Nai. Tác giả khảo sát 341 khách hàng tại chi nhánh này, áp dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để xử lý dữ liệu.
Kết quả xác nhận rằng 6 nhân tố có ảnh hưởng là Sự tin tưởng; Ảnh hưởng xã hội; Chi phí giao dịch; Hình ảnh, thương hiệu ngân hàng; Hiệu quả mong đợi; Nhận thức dễ sử dụng. Ngô Đức Chiến (2022) phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking tại các NHTM trên khu vực TP. Nghiên cứu triển khai khảo sát trên 291 khách hàng của các NHTM tại Đà Nẵng. Các phương pháp bao gồm thống kê mô tả, phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích tương quan và phân tích hồi quy đã được tác giả sử dụng để phân tích dữ liệu.
Kết quả xác nhận rằng có 6 nhân tố ảnh hưởng đó là Nhận thức rủi ro; Hình ảnh ngân hàng; Cảm nhận chi phí; Nhận thức hữu ích; Nhận thức dễ sử dụng; Ảnh hưởng xã hội. Nguyễn Thị Thanh Xuân và Nguyễn Thanh Hùng (2022) có bài báo phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Mobile Banking của khách hàng cá nhân tại AgriBank Trà Vinh. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu là phân tích Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA và kiểm định mô hình hồi quy 14 Binary Logistic với mẫu nghiên cứu là 219 khách hàng. Kết quả xác nhận rằng có 5 nhân tố tác động đến ý định sử dụng Mobile Banking đó là Ảnh hưởng xã hội; Hiệu quả mong đợi; Hình ảnh ngân hàng; Nhận thức rủi ro; Tính dễ dàng sử dụng; Tính linh hoạt.