Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, ngoài yếu tố sinh trưởng thì yếu tố bệnh lý cũng là nguyên nhân làm giảm năng suất và hiệu quả của người nông dân. Đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa với các tác nhân chính là vi sinh vật có hại. Trong nửa cuối thế kỷ 20, kháng sinh liều thấp được sử dụng phổ biến để bổ sung vào thức ăn như một nhân tố kìm hãm sự phát triển của các vi sinh vật có hại. Tuy nhiên, do sức ép của việc cấm sử dụng kháng sinh như chất kích thích sinh trưởng đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải nghiên cứu và sử dụng những chất thay thế để tạo ra những sản phẩm chất lượng đến với người tiêu dùng.
Vì vậy, hiệu quả kinh tế cùng chất lượng sản phẩm đang là những tiêu chí hàng đầu trong chăn nuôi gia cầm hiện nay. Công ty Alltech đã tạo ra sản phẩm Acid pak 4 way là chế phẩm pha nước uống, có chứa 4 thành phần thiết yếu (acid, enzyme, chất điện giải và vi khuẩn acid lactic), cung cấp đủ nguồn acid dùng cho quá trình tiêu hóa protein và duy trì pH acid nhằm cung cấp môi trường đường ruột tối ưu cho vật nuôi, cho phép các vi sinh vật sản xuất acid lactic đi qua đường ruột đồng thời hạn chế vi khuẩn gây bệnh mà không ảnh hưởng đến cân bằng điện giải. Hiệu quả của Acid pak 4 way đã được thử nghiệm trên hầu hết các loài gia súc, gia cầm trên thế giới. Nghiên cứu của Hiệp hội thú y Hoa Kỳ (USAMV) (2016) [20] về ảnh hưởng của Acid pak 4 way đối với gà broiler, đã giúp khối lượng trung bình của đàn thí nghiệm vượt 18% so với đàn đối chứng, hiệu quả tiêu thụ thức ăn cải thiện 6,44% ở nhóm Acid pak 4 way, tỷ lệ chết cũng giảm còn 2,8% so với 4,2% ở đàn đối chứng và lợi nhuận thuần đạt được là 6.913,81 VNĐ/con gà thịt.
2 Ở nước ta, Acid pak 4 way được sử dụng khá phổ biến đặc biệt là trong các trang trại gia súc, gia cầm lớn. Tuy nhiên, chưa có nhiều công bố kết quả nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chế phẩm sinh học này đến năng suất và chất lượng sản phẩm của vật nuôi. Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng bổ sung Acid pak 4 way đến gà Broler Cobb 500 nuôi chuồng hở vụ hè tại Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của việc dùng Acid pak 4 way đến gà broiler Cobb 500 nuôi chuồng hở vụ Hè tại Thái Nguyên.
- Bản thân làm quen với các nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở phục vụ nghiên cứu cho CBGV và sinh viên khoa Chăn nuôi Thú y. Ý nghĩa thực tiễn - Acid pak 4 way góp phần tăng khả năng tiêu hóa, giảm tỷ lệ mắc bệnh, tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
- Từ kết quả nghiên cứu ta có thể sử dụng Acid pak 4 way để áp dụng vào thực tiễn sản xuất. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Vài nét giới thiệu về Acid pak 4 way 2.
Đặc điểm của Acid pak 4 way Acid Pak 4 way là chế phẩm bột để pha vào nước uống có chứa bốn thành phần thiết yếu: acid hữu cơ, enzyme, chất điện giải và các vi khuẩn acid lactic. Theo nghiên cứu của USAMV Cluj - Napoca (2006) [20], việc bổ sung Acid pak 4 way vào nước uống nhằm làm pH của nước từ 6,44 giảm xuống dưới 4 và mức tốt nhất là từ 3 đến 3,4. Giảm pH nước đã làm gia cầm nhanh chóng giảm pH của chất chứa ở diều đến khoảng thích hợp nhất cho các hoạt động của vi sinh vật sản sinh acid lactic đồng thời hạn chế được sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. Hơn nữa, Acid pak 4 way còn làm gia tăng đáng kể magiê, clorua, photphat, sunfat, florua, natri, kali hữu cơ, sắt, mangan, kẽm, với các hiệu ứng thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của gà.
- Cơ chế tác động: Chất acid hóa trong AP4W là một chất đệm acid citrate bao gồm acid citric và natri citrate. Thông qua hoạt động đệm của axit này AP4W có thể làm giảm pH đến khoảng mong muốn, rồi giữ ở mức đó. - Đối tượng sử dụng: Lợn, gia cầm, bò thịt, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi ngựa, thú cưng. - Thành phần acid pak 4 way: gồm 4 nhóm Nhóm 1: Các acid hữu cơ (acid citric, acid sorbic) Theo Van Immerseel và Cs (2006) [21] bổ sung các acid hữu cơ trong chế độ ăn uống có tác dụng giảm vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm như: Salmonella, Campylobacter và Escherichia coli.
Nghiên cứu của Byrd J và Cs (2001) [12] chỉ ra rằng việc bổ sung acid hữu cơ vào nước uống giúp giảm 4 mức độ mầm bệnh trong nước, điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và cải thiện hiệu suất tăng trưởng. Các acid hữu cơ được sử dụng phổ biến trong thức ăn chăn nuôi gồm có formic, axetic, propionic, butyric, lactic, sorbic, fumaric, tartaric, citric, benzoic, và malic, và được chia làm 2 nhóm dựa theo đặc tính của chúng. Nhóm thứ nhất gồm có: Lactic, fumaric, citric có đặc tính gián tiếp giảm thiểu số lượng vi khuẩn bằng cách giảm trừ độ pH trong dạ dày; trong khi đó, nhóm thứ hai gồm có: Formic, axetic, propionic và sorbic có đặc tính tác động trực tiếp làm giảm độ pH trong đường tiêu hóa trên tế bào của vi khuẩn Gram. Theo nghiên cứu của Kum S và Cs 2010 [18]: Bổ sung acid hữu cơ (1,0% acid sorbic và 0,2% acid citric) giúp tăng đáng kể chiều rộng, chiều cao và diện tích của tá tràng, không tràng và hồi tràng của gà thịt lúc 14 ngày tuổi.
+ Cấy nấm Aspergillus niger trong môi trường glucoz lọc ra được dung dịch + Ca(OH)2 muối Canxi citrate + acid sulfuric acid citric. + Các chất đệm của các citrat được sử dụng để kiểm soát pH, đồng thời có khả năng làm mềm nước cứng, rất tốt để sử dụng trong chăn nuôi. + Ngoài ra acid citric còn được sử dụng như thành phần hoạt hóa trong sản xuất mô kháng virut. Acid sorbic (C6H8O2) + Acid sorbic dạng bột tinh thể màu trắng + Acid sorbic và muối của nó là các tác nhân kháng khuẩn thường thêm vào thức ăn, nước uống để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc, nấm men và vi khuẩn Aerophile, cản trở việc tăng trưởng và sinh sản của các vi sinh vật 5 độc hại như Pseudomonas.
Acid sorbic kéo dài thời gian lưu trữ thực phẩm mà vẫn lưu giữ được hương vị ban đầu. Tác dụng của acid hữu cơ: + Trong thức ăn: − Ngăn chặn sự phát triển của nấm men, nấm mốc và vi khuẩn. − Làm giảm hệ đệm của thức ăn, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn. + Trong đường tiêu hóa − Giảm pH trong dạ dày, đặc biệt ở ruột non, cải thiện việc giữ lại nitơ và làm tăng khả năng tiêu hóa.
− Phân ly trong tế bào vi khuẩn và sự tích lũy các anion muối ức chế sự phát triển của những vi khuẩn gram âm. Các vi khuẩn như Salmonella, E. Coli bị ức chế hoạt động khi pH<5, các acid hữu cơ xâm nhập qua màng tế bào vi khuẩn, phân ly trong tế bào chất làm thay đổi hoạt động của các enzym và trao đổi chất của tế bào, do đó ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. + Trao đổi chất Các acid hữu cơ và muối của chúng được xem là nguồn cung cấp năng lượng thô trong thức ăn của vật nuôi: acid citric (2.460 kcal/kg), acid formic (1.
Nhóm 2: Các chất khoáng (NaCl, ZnSO4, MgSO4, K) NaCl, Kali: Tăng tính ngon miệng, tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu protein, giúp ổn định độ toan kiềm của máu, tham gia vào hệ đệm của máu, giữ áp suất thẩm thấu của máu và mô bào, ổn định nhịp tim và hô hấp, giúp cho các dây thần kinh và cơ bắp hoạt động đúng chức năng, giảm stress do nhiệt. ZnSO4: Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất protein, carbohydrate, lipit. Có vai trò trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản, chống sừng hóa. 6 Magie sulfate: Là thành phần của xương và răng.
Đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống thần kinh và cơ, nằm trong thành phần 1 số enzyme. Điều hòa phản ứng photphoryl - oxy hóa, tham gia vào điều hòa thân nhiệt. Nhóm 3: Các chiết suất men được sấy khô (chiết xuất men Aspergillus niger, chiết xuất men Bacillus subtilis, sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus và chiết xuất men Enterococcus faecium đều được sấy khô). Chiết xuất men Aspergillus niger được sấy khô + Phân bố nhiều trong tự nhiên (đất, xác bã thực vật, hoa quả và đặc biệt nhiều ở vùng khí hậu ấm áp).
Là những cơ thể hiếu khí sống hoại sinh hoặc kí sinh, không có khả năng quang hợp, sống nhờ khả năng hấp thụ các loại chất hữu cơ có sẵn quan bề mặt khuẩn tỵ. + Có khả năng đồng hóa các loại đường khác nhau như: Glucose, fructose,. từ đó tham gia quá trình sản xuất acid citric. Chiết xuất men Bacillus subtilis được sấy khô + B.subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa.subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn Gram(-), Gram(+) và nấm gây bệnh.subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy.
Ở ruột, bào tử nẩy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài. Sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus được sấy khô Tác dụng lactobacillus trong chăn nuôi là dùng để sản xuất men và chất diệt khuẩn lactocidin, ức chế sinh trưởng số lượng vi khuẩn gây bệnh đường 7 ruột cho vật nuôi. Tăng cường kháng sinh tự nhiên và hệ miễn dịch đường ruột. Khả năng tạo acid của Lactobacillus acidophilus khoảng 2%.
Chiết xuất men Enterococcus faecium sấy khô + Là tăng cường enzyme tiêu hóa chất hữu cơ như tinh bột, đường, kích thích tiêu hóa cho vật nuôi.