Chương 1: Cơ sở lý luận về chu kỳ kinh tế và hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Chương 2: Thực trạng chu kỳ kinh tế và hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển ở Việt Nam Chương 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế đến kết quả hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp 5 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU I. Kết quả nghiên cứu của nước ngoài I. Chu kỳ kinh tế thế giới và tác động của nó đến vận tải biển toàn cầu Economic cycles in maritime shipping and port [75] – The path to the crisis of 2008 – Gustaff de Monie, Jean-Paul Rodrigue, Theo Notteboom, 2010. Bài viết vận dụng lý thuyết về CKKT để giải thích sự hình thành của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 và ảnh hưởng sâu sắc của nó đến hàng hải quốc tế.
Các số liệu thống kê từ những năm 1950 đến năm 2007 cho phép các nhà khoa học phân tích khá toàn diện mối quan hệ giữa khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển toàn cầu với tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, bài viết cũng khẳng định đã có sự thay đổi đáng kể trong mối quan hệ giữa ngành công nghiệp tài chính với ngành VTB. Theo truyền thống, các công cụ tài chính nâng đỡ và là cơ sở cho sự phát triển nhanh chóng của VTB quốc tế. Tuy nhiên, trong một vài thập kỷ gần đây, chính VTB lại trở thành đòn bẩy cho các hoạt động tài chính.
Các tác giả cũng đã sử dụng phương pháp phân tích thống kê để chỉ ra sự sụt giảm đột biến, tới 94% so với 6 tháng trước đó, của chỉ số cước của Hiệp Hội VTB Baltic (BDI) vào thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế, đầu năm 2009, đồng thời cũng cho thấy số lượng container qua một số cảng lớn (hub port) giảm mạnh vào tháng giêng năm 2009. Cuối cùng, bài viết cũng bình luận về phương pháp dự báo được sử dụng nhiều để xác định biến động của lượng container vận chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc nhận định có mối quan hệ giữa cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 với VTB quốc tế mà chưa phân tích chi tiết cũng như định lượng được mối quan hệ đó. Crisis in shipping cycle [50]- George Logothetis – 2008 Bài báo có tính thời sự vì mô tả trung thực diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008.
Tác giả cũng cho rằng chính sách tài khóa tiêu cực của các nước trong khối OECD nhằm đối phó với khủng hoảng nợ công là những nhân tố 6 chính gây ra thời kỳ suy thoái kéo dài trong ngành VTB toàn cầu. Bên cạnh đó, bằng phương pháp phân tích thống kê tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa thương mại toàn cầu và VTB. Maritime economics 3rd edition [66]- Martin Stopford – 2009 Cuốn sách hơn 800 trang của Stopford là cuốn sách giáo khoa viết về kinh tế học ứng dụng trong ngành kinh doanh hàng hải với đầy đủ cơ sở lý thuyết và số liệu minh họa thực tiễn. Sáu phần chính của cuốn sách lần lượt là: giới thiệu về VTB, thị trường kinh doanh vận tải, công ty kinh doanh VTB, tuyến đường biển và hệ thống vận tải, đội tàu buôn và cung ứng VTB, dự báo và kế hoạch.
Phần trực tiếp liên quan đến luận án là về thị trường kinh doanh vận tải. Phần này gồm có 3 chương. Trong đó, chương đầu tiên mang tên chu kỳ thị trường VTB có đề cập tới các biến động mang tính chu kỳ của hoạt động vận tải. Tác giả đã đưa ra và phân biệt các khái niệm: chu kỳ ngắn hạn, chu kỳ dài hạn và chu kỳ mùa vụ trong VTB.
Bên cạnh đó, bằng số liệu thống kê qua hơn hai thế kỷ, tác giả đã chứng minh nhận định về sự tồn tại của chu kỳ trong VTB. Đáng chú ý là chu kỳ thuyền buồm (sailing ship cycles) 1741 – 1869, chu kỳ thị trường tàu buôn (tramp ship cycles) 1869 - 1936, chu kỳ thị trường vận tải hàng rời (bulk shipping market cycles) 1945 -2008. Tuy nhiên, tác giả không đề cập tới mối liên hệ giữa CKKT thế giới và chu kỳ thị trường VTB toàn cầu. Cuối cùng, trước khi kết thúc chương, tác giả đã có một vài phân tích mang tính dự báo về chu kỳ thị trường vận tải.
Ở phần cuối cuốn sách (part 6: forecast and planning), Stopford đã khuyến nghị sử dụng công cụ định lượng để nghiên cứu các dữ liệu dãy số thời gian trong VTB nhằm dự báo và đưa ra các kịch bản cho tương lai. Tác giả đã chứng minh bằng việc sử dụng công cụ định lượng phổ biến là phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để ước lượng các hàm hồi qui đơn biến và và đa biến mô tả các mối quan hệ kinh tế trong VTB. Đây là một gợi ý quan trọng để NCS thiết lập mô hình định lượng cho đề tài luận án. 7 Trong một bài viết khác, với vai trò là giáo sư thỉnh giảng của Royal Institute of Naval Architects năm 2009, Stopford đã phân tích chi tiết quan hệ giữa toàn cầu hóa và CKVTB trong dài hạn (Globalization & the Long Shipping Cycle [65]).
Đáng chú ý là những nội dung trong mục 5 của bài giảng. Những số liệu cụ thể được Stopford đưa ra đã chứng minh mối quan hệ khá chặt giữa GDP toàn cầu và thương mại VTB. Trong hơn 50 năm, từ 1966 đến 2010, tác giả đã chỉ ra các mốc thời gian có ý nghĩa nhằm giúp độc giả nhận diện sự phụ thuộc lẫn nhau rất cơ bản giữa GDP và thương mại VTB. Ở các năm 1973 (khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất), 1979 (khủng hoảng dầu mỏ lần thứ 2), 1991 (khủng hoảng tài chính thế giới), 1997 (khủng hoảng tài chính châu Á) và 2008 (khủng hoảng tín dụng Mỹ), sự sụt giảm tỷ lệ tăng trưởng GDP kéo giá trị thương mại VTB đi xuống rõ rệt.
Trong bài viết, Stopford đồng thời sử dụng các số liệu về chỉ số cước, về số tấn trọng tải tàu biển được đặt hàng đóng mới và khối lượng hàng hóa vận chuyển đường biển toàn thế giới kết hợp với qui mô GDP toàn cầu để chứng minh luận điểm về quan hệ giữa toàn cầu hóa và chu kỳ dài hạn của VTB thế giới. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều bài viết khác, Stopford không chỉ ra bất kỳ một phương pháp cụ thể nào để định lượng mối quan hệ này. Shipping out of the economic crisis [58]– Jan Hoffman – 2009 Bài báo về VTB trong khủng hoảng của Jan Hoffman (2009), trưởng ban thuận lợi hóa thương mại của Liên hợp quốc, lại tiếp cận VTB ở một góc độ khác. Trong đó, tác giả chỉ ra quá trình điều chỉnh và thích nghi với hoàn cảnh của VTB thế giới trong khủng hoảng theo lý thuyết cung cầu.
Trong khủng hoảng, các hãng tàu thường có các động thái cơ bản như dừng các đơn đặt hàng đóng mới phương tiện, nhượng bán tàu cũ cho các hoạt động phá dỡ, giảm tốc độ chạy tàu để tiết kiệm chi phí nhiên liệu, thậm chí có thể tạm ngừng khai thác từng phần hoặc toàn bộ đội tàu để chờ đợi kinh tế phục hồi. Cung vận tải vì thế sẽ giảm dần tới khi các giao dịch thị trường có thể tiếp tục diễn ra ở trạng thái cân bằng mới. 8 Review of maritime transport 2012, 2013, 2014, 2015, 2016 [77] – Liên Hiệp Quốc Cuốn tạp chí thường niên của Liên Hiệp Quốc cung cấp một cách đầy đủ và toàn diện thực trạng ngành vận tải đường biển toàn cầu mỗi năm và so sánh với lịch sử VTB. Trong đó, nhiều số liệu thống kê đã chỉ ra một cách rõ ràng mối quan hệ hữu cơ giữa sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu và hoạt động vận chuyển đường biển.
Các phân tích khách quan dựa trên cơ sở dữ liệu đã đồng thời giải thích lý do của mối quan hệ đó. Người đọc dễ dàng nhận ra biến động chu kỳ của VTB gắn liền với các giai đoạn khủng hoảng và gia tăng mạnh mẽ hoạt động kinh tế. Bằng việc dẫn chiếu số liệu thống kê về sản lượng hàng hóa vận chuyển, biến động chỉ số cước của các nhóm hàng hóa chủ yếu (hàng container, hàng rời, hàng lỏng và hàng bách hóa), qua đó chứng minh mối quan hệ giữa các biến động kinh tế ngắn hạn với hoạt động của ngành VTB. Mặc dù không cung cấp phương pháp và cách thức để xác định ảnh hưởng qua lại giữa biến động kinh tế ngắn hạn và hoạt động vận chuyển đường biển nhưng có thể coi đây là nguồn tài liệu tham khảo đáng tin cậy cho các nghiên cứu chuyên ngành.
• Các bài báo và cuốn sách để cập tới tác động của các biến động vĩ mô đến VTB nói chung và vận chuyển hàng hoá bằng đường biển nói riêng mà NCS đã được đọc có một số điểm chung sau đây: - Mang tính thời sự vì được viết vào thời kỳ 2008 – 2009, khi mà khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang ở mức độ sâu sắc nhất. - Sử dụng một số lý thuyết của khoa học kinh tế như lý thuyết chu kỳ, lý thuyết cung cầu và công cụ phân tích thống kê để luận giải tác động của biến động vĩ mô nói chung, khủng hoảng kinh tế nói riêng đến ngành VTB thế giới. Điều đó gợi ý cho NCS hướng tới việc tìm cách trả lời cho câu hỏi: Trong phạm vi hẹp hơn, ở tầm quốc gia, có hay không ảnh hưởng của các biến động vĩ mô đến VTB nói chung và vận chuyển hàng hoá bằng đường biển nói riêng? Và 9 nếu có thì mức độ ảnh hưởng sẽ như thế nào? I. Về các nghiên cứu sử dụng mô hình Vector tự hồi qui VAR được sử dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu về kinh tế vĩ mô.
Tìm hiểu về VAR trong các nghiên cứu của nước ngoài, NCS nhận thấy có 2 loại tài liệu. Loại thứ nhất là các bài viết về nghiên cứu định lượng đi sâu phân tích VAR và các ứng dụng của nó. Điển hình là bài viết có tiêu đề ‘Structure Vector Autoregressive analysis in a data rich Environment’ của Helmut Lutkepohi năm 2014. Trong đó, tác giả tổng hợp kết quả điều tra về các nghiên cứu có sử dụng VAR, SVAR, BVAR và GVAR.
Theo tác giả, mỗi dạng của VAR có phạm vi áp dụng và thế mạnh riêng [53]. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu có thể linh hoạt lựa chọn mô hình phù hợp để phân tích các phản ứng đẩy và dự báo các biến số vĩ mô nếu các kiểm định cho kết quả đáng tin cậy.