Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên không chỉ cung cấp lâm đặc sản mà rừng còn là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí quyển, hấp thu chất độc hại như: CO2, SO2 ,.và làm cân bằng môi trường sinh thái đem lại cuộc sống trong lành cho con người. Mặc dù rừng có vai trò to lớn như vậy những diện tích rừng không những trong nước mà ở một số nước khác, diện tích rừng ngày càng giảm về số lượng và chất lượng (Nguyễn Thị Cẩm Nhung, 2006)[10]. Do việc tăng lên về dân số và sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp đã dẫn tới việc phá rừng, lạm dụng tài nguyên rừng một cách trầm trọng. Điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: xói mòn, rửa trôi, cạn kiệt nguồn nước,phá hủy môi trường sống của động vật, làm mất đa dạng sinh học, gây nên biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường… hàng loạt những hậu quả xấu diễn ra khi diện tích rừng bị giảm.
Trước thực trạng đó Nhà Nước ta đã quan tâm phát triển rừng để phủ xanh đất trống, nâng cao chất lượng rừng. Trong những năm gần đây, việc trồng rừng ngày càng được người dân quan tâm, nhằm đáp ứng nhu cầu về gỗ, lâm sản ngoài gỗ nâng cao thu nhập đồng thời cải thiện các chức năng phòng hộ, cảnh quan, điều hòa khí hậu… Giống là một khâu đặc biệt quan trọng trong các chương trình trồng rừng kể cả trong rừng kinh tế, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng cây phân tán. Công tác giống đóng vai trò không thể thiếu được trong trồng rừng, nhằm tái tạo, giúp cho nghề rừng được lâu dài, sớm phát huy tác dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường. Hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào cụ thể để nhân rộng loài cây này phục vụ cho công tác trồng rừng.
Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ rằng sự thành công trong công tác trồng rừng không chỉ phụ thuộc vào đặc c 2 tính sinh học của loài cây mà còn phụ thuộc vào chất lượng cây con và nhiều nhân tố ngoại cảnh khác. Nước là một nhân tố quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển cây, vì vậy mục tiêu của nghiên cứu này là xác định chế độ tưới nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Tràm Úc. Xuất phát từ thực tế đó tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của chế độ tƣới nƣớc đến sinh trƣởng của cây Tràm Úc (Melaleuca leucadendra L) giai đoạn vƣờn ƣơm tại Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Kết quả nghiên cứu góp phần tạo giống tốt, phục vụ cho công tác trồng rừng nhằm bảo tồn và phát triển loài cây Tràm Úc.
Chọn ra công thức thí nghiệm tốt nhất trong sinh trưởng của cây Tràm Úc ở giai đoạn vườn ươm. Áp dụng công thức đó cho các lần ươm cây giống sau này. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được chế độ tưới nước phù hợp nhất cho sinh trưởng của cây Tràm Úc. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong khoa học Giúp cho sinh viên bước đầu làm quen, hiểu thêm về kiến thức phục vụ cho công tác điều tra ngoài thực tế, vận dụng cả lý thuyết và thực hành nhằm đạt kết quả và chất lượng cao trong quá trình học tập tại nhà trường. Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu loài cây Tràm Úc. Qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn cây Tràm Úc. Ý nghĩa trong thực tiễn Trang bị cho sinh viên cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng.
Áp dụng kết quả nghiên cứu để đưa ra chế độ tưới nước hợp lý nhất trong chăm sóc cho loài cây Tràm Úc giúp cho cây sinh trưởng nhanh, đảm bảo số lượng, chất lượng cây con, góp phần tăng tỷ lệ xuất vườn, giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kĩ thuật gieo ươm cây Tràm Úc. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Vai trò của nước đối với cây Nước là thành phần quan trọng cấu trúc nên chất nguyên sinh. Nước chiếm trên 85% khối lượng của chất nguyên sinhvà nó quyết định tính ổn định của cấu trúc keo nguyên sinh chất. Bình thường chất nguyên sinh ở trạng thái sol biểu hiện hoạt động mạnh. Nếu mất nước thì hệ keo nguyên sinh chất có thể chuyển sang trạng thái coaxeva hay gel làm giảm mức độ hoạt động sống của tế bào và của cây.Nước tham gia vàcác phản ứnghóa sinh,các biến đổichất trong tế bào.
Nước là dung môi đặc hiệu cho các phản ứng, vừa tham gia trực tiếp vào các phản ứng trong cây.Nước cung cấp điện tử H+ cho việc khử C02 trong quang hợp, tham gia oxy hóa nguyên liệu hô hấp, tham gia quá trình phản ứng thủy phân. Nước hòa tan các chất hữu cơ và các chất khoáng rồi vận chuyển đến tất cả các cơ quan cần thiết trong toàn cơ thể và tích lũy vào cơ quan dự trữ. Có thể nói nước là mạch máu lưu thông đảm bảo khâu điều hòa và phân phối vật chất trong cây, quyết định việc hình thành năng suất và kinh tế của cây trồng.Nướclà chất điềuchỉnh nhiệttrongcây.Khigặpnhiệuđộcao,quá trình bay hơi nước sẽ làm giảm nhiệt độ đặc biệt là của bộ lá, đảm bảo các hoạt động quang hợp và các chức năng sinh lý khác tiến hành thuận lợi. Đồng thời, quá trình thoát hơi nước ở lá là động lực quan trọng nhất để hút nước và chất khoáng từ đất cung cấp cho các bộ phận trên mặt đất.
Nước còn có chức năng dự trữ trong cây. Các loại thực vật chịu hạn như cácthựcvậtmọngnước(CAM)cóhàmlượng nước dự trữ lớn, khí khổng đóng ban ngày nên có thể sống trong điều kiện khô hạn ở sa mạc, các đồi cát, c 5 đồi trọc thiếunước… Hàm lượng nước liên kết với thực vật này rất cao quyết đinh khả năng chống chịu của chúng đối với điều kiện bất thuận nhất là chịu nóng và chịu hạn. Tế bào thực vật duy trì một sức trương P nhất định nhờ hấp thu bằng con đường thẩm thấu vào không bào. Nhờ có sức trương P lớn mà đảm bảo cho tế bào luôn ở trạng thái no nước và cây ở trạng thái căng, tươi thuận lợi cho các hoạt động sinh lý và sinh trưởng phát triển của cây.
Ngược lại, nếu thiếu nước thì sức trương của tế bào giảm xuống, tế bào co lại gây hiện tượng héo của cây. Như vậy, nước vừa tham gia cấu trúc nên cơ thể thực vật, vừa tham gia các biến đổi hóa sinh và các hoạt động sinh lý của cây, cũng như quyết định đến năng suất cây trồng. Khi thiếu nước, tất cả các quá trình trao đổi vật chất vàhoạt động sinh lý diễn ra trong cơ thể đều bị đảo lộn, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bị kìm hãm, quá trình thụ phấn, thụ tinh không xảy ra làm giảm năng suất thực vật [14]. Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạnvườn ươm.
Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng.Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây con. Hệ rễ cây controng bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng. Nhiềunước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm, kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết dothiếu không khí. Vì thế, việc xác định hàm lượng nước thích hợp cho cây conở vườn ươm là việc làm rất quan trọng (Larcher, 1983) [3]; Nguyễn Văn Sở,2004)[12].
Các biện pháp tưới nước Có rất nhiều cách tưới để lựa chọn cho phù hợp với cây Tràm Úc. Vì thiết bị tưới nước rất đa dạng, địa hình ở các vùng trồng cũng khác nhau, độ dốc của đất, lượng nước có sẵn cũng khác nhau. Các cách tưới phổ biến cũng giống như tưới cho cây ăn quả, có 2 cách tưới chính: c 6 - Hệ thống tưới phía trên cây có thể di động, bán di động hoặc cố định. - Hệ thống tưới dưới gốc cây gồm bình phun loại nhỏ, máy tưới bé, tưới kiểu nhỏ giọt hoặc tưới vào bồn.
Tất cả các cách tưới trêncó thể được sử dụng để tưới Tràm Úc. Mỗi kiểu đều có mặt ưu, mặt nhược tương quan về các mặt giá đầu tư, yêu cầu về lao động, chi phí cho vận hành, hiệu suất sử dụng nước, dễ vận hành và bảo quản, hoặc tính linh động trong khi sử dụng. Cách lựa chọn các phương pháp tưới khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện thực tế (như vốn đầu tư, nhân công, địa hình, lượng nước có sẵn trong thiên nhiên, chất lượng, độ cơ giới và những đặc điểm về kỹ thuật của trang thiết bị) trong từng giai đoạn riêng biệt. Tưới nhỏgiọt Trong những năm gần đây kỹ thuật tưới nhỏ giọt được đánh giá cao về mặt tiết kiệm nước.
Hệ thống tưới gồm có máy bơm, bể chứa phân bón, máy lọc, đường ống dẫn, vòi nhỏ giọt (dripper) và các van phân phối nước. Trong kỹthuậttướinhỏ giọt, nước được cung cấp cho từng khoảnh đất trên cánh đồng và tập trung ở phần hoạt động chủ yếu của bộ rễ cây trồng. Kỹ thuật tưới nhỏ giọt lần đầu tiên được sử dụng trong nhà kính ở Anh vào cuối thập niên 1940 và trên đồng ruộng ở Israel vào những năm 1950[18].Sau nhiều năm ứng dụng, người ta đã đi đến kết luận là kỹ thuật tưới nhỏ giọt có thể thay thế cho các kỹ thuật tưới bề mặt và tưới phun mưa đã có từ lâu. Bờ Biển Ngà và Ấn Độ đã sử dụng kỹ thuật tưới này[5].
Kỹ thuật tưới nhỏ giọt có những thuận lợi sau: - Tiết kiệm nước: Do nước được cung cấp trực tiếp đến phần rễ cây nên tránh được tổn thất nước, thông thường có thể tiết kiệm được 20-30% lượng nước so vớitưới phun mưa haytướitràn.Kết quảnghiêncứu củaSnoeck (1998) tại Bờ Biển Ngà cho thấy kỹ thuật tưới nhỏ giọt có thể tiết kiệm được 30-50% c 7 lượngnướctướisovớitưới phunmưa trongkhi(tích luỹ2năm) không có sự khác biệt giữa hai phương pháp tưới[19]. - Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, chất dinh dưỡng được cung cấp dễ dàng và đều đặn đến vùng hoạt động của bộrễ thông qua nước tưới[18], [20]. - Chi phí vận hành thấp. Do lưu lượng thấp, không đòi hỏi áp suất cao nên chi phí nhiên liệu thấp, hệ thống đường ống được đặt cố định và có thể điều khiển bằng máy vi tính nên không tốn nhiều công để vận hành.