Đặt vấn đề Hoa là nguồn tài nguyên, là vẻ đẹp tôn qúi của thiên nhiên ban tặng cho con người, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, nghề trồng hoa và thú chơi hoa trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức những loại hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn. Trong các loài hoa, hoa lan đang là nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Nhiều người thường gọi nhầm tên của tất cả các loại hoa lan là phong lan, tuy nhiên hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau được gọi tên khác nhau và được chia thành 4 loại: 1. Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống.
Terestrials: Địa lan mọc dưới đất. Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Hoại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục. Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng.
Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư (Đỗ Tất Lợi) [17]. Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg lan Thạch hộc tía. Hoa lan sở dĩ được nhiều người ưa chuộng là vì: Trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất.000 giống khác nhau, cùng với những loài mới được khám phá và mô tả theo hàng năm. Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa.
Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình Luan van 2 dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến dạng hình thân, lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi. Mầu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang sọc vằn… Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường. Hoa lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt, có loại cụp vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong. Hoa lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng gần một tấn.
Hương lan đủ loại: thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả. Tại Thái lan có một loại lan được giấu tên và được bảo vệ rất nghiêm ngặt, hương thơm dành riêng để cung cấp cho một hãng sản xuất nước hoa danh tiếng. Hoa lan nếu được nuôi giữ ở nhiệt độ và ẩm độ thích hợp có thể giữ được nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến hai tháng, có những giống lâu đến 4 tháng hoa mới tàn, có những giống nở hoa liên tiếp quanh năm. Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường.
Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH do đó lan rừng cũng là một thành phần nằm trong số lượng suy thoái của nguồn rừng tự nhiên, vì vậy việc tái sinh thưc vật bằng nuôi cấy mô là rất cần thiết (Ngô Xuân Bình- Nguyễn Thị Tình, 2008-2009) [3], (Chang c. Việt nam là quê hương của khoảng 91 chi, 463 loài lan và khoảng 1000 giống nguyên thủy. Những cây lan này phân bố tại vùng rừng, núi các tỉnh Thái Nguyên, Cao bằng, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy nhơn, Kontum, Pleiku, Đắc Lắc, Đà lạt, Luan van 3 Nam Cát Tiên. Trong số lan của Việt Nam có rất nhiều cây hiếm quý và có những cây trước kia chỉ thấy mọc ở Việt nam như cây lan nữ hài Paphiopedilum delenati, cánh trắng môi hồng do một binh sĩ người Pháp đã tìm thấy ở miền Tây Bắc Việt Nam vào năm 1913, sau đó đến năm 1922 đã phát hiện chúng có phân bố tại miền Trung Việt Nam và đến năm 1990-1991 phát hiện được ở Khánh Hòa (Mai Trần Ngọc Tiếng, 2001) [24].
Nghề trồng hoa lan ở Việt Nam có lịch sử rất lâu đời. Vua Trần Nhân Tông lập nên "Ngũ bách viên" trong đó có 500 loài hoa quý được sưu tập từ khắp các vùng đất nước (Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp,1995)[9] chủ yếu là kiếm lan (loài lan bản địa có nhiều hương) thuộc chi Cymbidium sp, ngày đó các chậu lan còn được coi là vật báu quốc gia. Các loài lan đó còn tồn tại đến ngày nay, được các nhà nho, quan lại, các gia đình khá giả thích chơi các loài lan này và phát triển trong dân gian, hiện nay còn một số loài lan quý hiếm vẫn tồn tại như Thanh Ngọc, Mạc đen, Đại mạc biên, Đại mạc, Hoàng vũ, Thanh trường, Hoàng điểm.giá trị mỗi chậu lan nhỏ lên tới vài triệu đồng thậm chí cả chục triệu đồng khi tến đến xuân về (Trần Hợp,1998)[10]. Trầm tím là một thành phần nằm trong danh sách thực vật cần bảo tồn và phát triển, tuy nhiên, hiện nay việt nam vẫn chưa làm chủ được công nghệ nhân giống và sản xuất hoa lan, bênh cạnh đó trong rừng tự nhiên hoa lan Trầm tím với một số loài lan khác cũng bị khai thác kiệt quệ qua ngày tháng và khó có thể tái hồi sinh theo tự nhiên.
Đặc biệt, loài lan rừng này còn được xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc với giá rất cao nên tốc độ khai thác ngày càng tăng và dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên. Như vậy, để có thể bảo tồn và phát triển hai loài lan quý hiếm này nhằm phục vụ được nhu cầu tiêu dùng thì không còn đường nào khác là phải tiến hành nhân giống và nuôi trồng chúng ở quy mô lớn (Nguyễn Tiến Bân, 2007) [2], (Trần Hợp, 1989) [10] và (Dương Đức Huyến &cs, 2007) [29]. Mặt khác hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng trên các loài lan rừng nhân giống bằng phương pháp giâm hom, đặc biệt là đối với những loài thân đốt. Chủ yếu là phương pháp nghiên cứu ảnh Luan van 4 hưởng của chất điều hòa sinh trưởng trên các loài lan nhân giống bằng phương pháp Invitro do đó nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến lan trầm tím là bước đầu cần thiết đối với việc nhân giống bảo tồn các loài lan tại Thái Nguyên.
Vì vậy xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan trên cũng như góp phần phát triển ngành trồng lan tại tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến lan trầm tím (Dendrobium nestor) trồng trong chậu tại Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu đề tài - Mục tiêu + Xác định được chất điều hòa sinh trưởng phù hợp cho Lan trầm tím trồng trong chậu có khả năng sinh trưởng phát triển tốt nhất. - Yêu cầu + Đánh giá ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của loài Lan trầm tím trong giai đoạn vườn ươm. + Theo dõi và đánh giá tình hình sâu bệnh hại trên thân cây lan Trầm tím.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp các dẫn liệu khoa học về các chỉ tiêu cơ bản cho giống lan đạt năng suất chất lượng cao cũng như ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng phát triển, sự hình thành hoa và chất lượng hoa của các giống lan Trầm tại Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng là nền tảng đóng góp thêm phần cơ sở lý luận hoàn thiện quy trình trồng và sản xuất hoa Phong Lan. Ý nghĩa thực tiễn Là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật giúp người dân sản xuất tiếp cận và từng bước làm chủ quy trình công nghệ sản xuất hoa Phong Lan trong việc tuyển chọn và kết hợp chất điều hòa sinh trưởng nuôi cây. Đưa ra một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống lan ở thời kỳ cây con, góp phần quyết định vào thành công của sản xuất sau này trong điều kiện sinh thái cụ thể Thái Nguyên.
Luan van 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Thực tiễn trong nền kinh tế đang phát triển ngày nay, ngành nông nghiệp Việt Nam đang được đầu tư với hướng đi đúng đắn và chuyên biệt rõ rệt nhằm tạo ra những sản phẩm chất lượng, chi phí thấp, lợi nhuận cao. Cùng với sự phát triển hiện đại của nền nông nghiệp thì nhu cầu sử dụng các sản phẩm làm đẹp trong việc trang trí, làm thuốc tốt cho sức khỏe của người dân cũng tăng cao (Đỗ Tất Lợi, 1995)[17]. Trước tình hình đó đòi hỏi người nông dân phải tiến hành một nền thâm canh hiện đại tốt cho sức khoẻ con người và không gây ô nhiễm môi trường.
Với thói quen sử dụng phân bón tràn lan và không tuân thủ đúng quy trình sử dụng trong quá trình trồng rau mầu đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng như ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm, không những thế lượng tồn dư trong phân bón khi bón cho cây có thể vượt mức cho phép làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, ngoài ra, bón phân tự do theo kinh nghiệm tự phát không đúng tiêu chuẩn dẫn đến cây trồng qua các vụ trồng năm sau dần bị thoái hóa và giảm năng suất. Do đó sử dụng các loại phân bón qua lá đúng cách, đúng tiêu chuẩn có thể phục hồi và tái tạo lại sức sản xuất làm tăng sản lượng cây trồng, tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng lợi nhuận và quan trọng nhất là bảo vệ môi trường, sức khỏe con người. Giới thiệu chung về cây hoa lan 2.