ĐẶT VẤN ĐỀ Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh rất thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây dược liệu khác nhau trong đó có Trà hoa vàng. Nhiều loài cây dược liệu có giá trị cao trong y học phát triển tự nhiên trong các khu rừng trên địa bàn tỉnh. Số liệu thống kê năm 2017, toàn tỉnh có 948 loài cây thuốc thuộc 182 họ, 561 chi khác nhau. Với tiềm lực tự nhiên đó, ngành Y tế tỉnh đã và đang xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Dược Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, tập trung hình thành vùng bảo tồn, phát triển cây dược liệu tập trung tại Vườn cây thuốc quốc gia Yên Tử và Thung lũng dược liệu Ngọa Vân - Yên Tử.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch thành lập 01 khu bảo tồn đa dạng sinh học, 01 vườn bảo tồn và phát triển cây thuốc và các vùng trồng cây dược liệu tại: Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Ba Chẽ, Tiên Yên và Bình Liêu (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2018). Trong số 13 loại cây dược liệu bản địa, cây Trà hoa vàng là loại cây cần được quan tâm đặc biệt. Đến thời điểm hiện nay, tổng diện tích trồng Trà hoa vàng toàn tỉnh đã lên đến hơn 150 ha; trong đó, huyện Ba Chẽ có diện tích trồng lớn nhất đạt khoảng 140 ha cho sản lượng 13 tấn lá tươi và 1,2 tấn hoa tươi, diện tích còn lại phân bố ở các huyện Hải Hà, Tiên Yên và Đầm Hà. Hiện nay, huyện Ba Chẽ đã quy hoạch đến năm 2020, diện tích trồng cây Trà hoa vàng đạt 500 ha.
Ngoài ra Quảng Ninh có chủ trương phát triển thành một trong những trung tâm cây dược liệu lớn nhất cả nước, nhiều loại cây dược liệu đã và đang dần được đưa vào trồng thử nghiệm và sản xuất tại đây. Để phát triển sản xuất cây dược liệu một cách bền vững bảo vệ cây dược liệu trước sự tấn công của sâu, bệnh hại, cần phải có nghiên cứu cơ bản về bảo vệ thực vật để hiệu rõ bản chất của các đối tượng dịch hại và đề xuất các giải pháp phòng chống một cách kịp thời. Luan van 2 Theo kết quả nghiên cứu của Trường đại học Dược Hà Nội, Trà hoa vàng Quảng Ninh có thành phần dinh dưỡng phong phú, có tác dụng làm cảnh, cải thiện môi trường và giá trị dược liệu quý và giá trị kinh tế cao. Hiện nay, diện tích trồng Trà hoa vàng khoảng 140 ha, trong đó 50 ha đã có thể thu hoạch hoa và 60 ha cho thu hoạch lá, chủ yếu vẫn khai thác ngoài tự nhiên, dẫn đến 1 số giống Trà hoa vàng có nguy cơ tuyệt chủng.
Trà hoa vàng vừa là cây dược liệu quý, vừa có thể trồng làm cây cảnh, do đó đem lại giá trị kinh tế rất cao. Trà hoa vàng tươi có giá từ 1-1,3 triệu đồng/kg và hoa Trà hoa vàng khô có giá 14-15 triệu đồng/kg. Hiện nay, 140 ha Trà hoa vàng tại huyện Ba Chẽ, chiếm tỉ lệ lớn nhất tỉnh Quảng Ninh, phân bố chủ yếu ở các xã Thanh Sơn (40,3 ha); Đồn Đạc (36 ha) và Đạp Thanh (27,6 ha). Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài và kết quả khảo sát tại một số khu vực trồng Trà hoa vàng cho thấy, Trà hoa vàng đã bị nhiễm một số đối tượng sâu bệnh hại như rệp, nhện đỏ, nấm muội, thối rễ, sâu đục thân…đặc biệt là bệnh thán thư bệnh phổ biến gây hại trên lá, cũng có thể gây tác hại nhất định với chồi non, chồi và nụ hoa.
Trường hợp nghiêm trọng có thể khiến chồi bị khô chết. Bệnh thường bắt đầu ở đầu lá, mép lá và lan dần vào giữa lá. Việc phát triển vùng trồng nguyên liệu tập trung sẽ luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra dịch bệnh, gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế của doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Do vậy, các việc cấp bách phải nghiên cứu, xác định thành phần sinh vật hại trên cây Trà hoa vàng, và đề xuất được các giải pháp kỹ thuật xử lý chúng một cách hiệu quả, bền vững nhằm bảo vệ các vùng sản xuất cây Trà hoa vàng một cách hiệu quả và an toàn; cũng như là cơ sở quan trọng giúp huyện Ba Chẽ mở rộng diện tích theo quy hoạch.
cần sớm có giải pháp căn cơ ứng phó kịp thời trên nguyên tắc phòng là chính, hữu cơ là đích đến của sản phẩm. Vì vậy việc xác định nguyên nhân gây bệnh thán thư hại trà hoa vàng tại huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh là cần thiết, cấp bách làm cơ sở khoa học Luan van 3 để nghiên cứu, khuyến cáo được các giải pháp bước đầu trong quản lý tổng hợp bệnh hại trà hoa vàng tại huyện Ba chẽ, tỉnh Quảng Ninh.Xuất phát từ thực tế trên em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Xác định nguyên nhân và diễn biến bệnh thán thư hại trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh”. Mục tiêu và yêu cầu cầu đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu Xác định nguyên nhân và diễn biến bệnh thán thư hại trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh.
Yêu cầu nghiên cứu - Xác định nguyên nhân bệnh thán thư hại Trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh. - Diễn biến bệnh thán thư hại trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh. - Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ hóa học đến bệnh thán thư trên Trà hoa vàng tại Huyện Ba Chẽ, Tỉnh Quảng Ninh. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thông tin khoa học cơ bản về nguyên nhân bệnh thán thư ở cây trà hoa vàng. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học và là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu cây Trà hoa vàng. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xác định được nguyên nhân từ đó có biện pháp phòng trừ nhằm hạn chế được bệnh thán thư trên Trà hoa vàng, ổn định năng suất, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các tỉnh trồng Trà hoa vàng nói chung. - Là tài liệu trong học tập, là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan.
Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Tìm hiểu nguyên nhân và diễn biến tình trạng của bệnh gây ra đối với cây là một yếu tố thiết yếu và cực kì quan trọng đối với mọi loại cây trồng. Giúp ta làm rõ được nguồn gốc gây bệnh cho cây từ đó ta có biện pháp phòng tránh ngăn chặn. Nhờ vậy giúp nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây của cây trồng.
Bệnh thán thư là bệnh khá phổ biến trên cây trà hoa vàng ảnh hưởng khá lớn tới năng suất sản lượng của cây do đó tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh thán thư hại trà hoa vàng để tìm biện pháp phòng tránh cũng như ngăn ngừa là hết sức cần thiết. Tình hình nghiên cứu trà hoa vàng trên thế giới Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan, vị trí phân loại của chi Camellia L. có thể được tóm tắt như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Sổ (Dilleniidae) Bộ: chè (Theales) Họ: Chè (Theaceae) Trà hoa vàng thuộc cây bụi hoặc cây nhỏ, cành nhẵn hay có lông. Lá thường có cuống, đơn, mọc so le, không có lá kèm, chóp lá nhọn, có đầu nhọn hoặc kéo dài thành đuôi, gốc lá hình nêm hẹp, nêm rộng, tròn hay hình tim, mép có răng cưa nhọn hoặc tù.
Hoa đều, lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn độc ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa màu đỏ, trắng hoặc vàng, cuống hoa ngắn hoặc gần như không có cuống. Có từ 2-10 lá bắc, mọc xoắn trên cuống hoa, có 4-19 cánh hoa hợp 1 phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài. Nhị Luan van 5 nhiều, dính với nhau ở phần gốc, vòng nhị phía trong rời nhau, chỉ nhị dài.
Bầu trên có 1-5 ô, 1-5 vòi nhụy, dạng sợi, rời hoặc dính nhau; bầu và vòi nhụy nhẵn hay phủ lông mịn. Quả nang, hình cầu dẹt hoặc hình trứng, khi khô chẻ ô từ trên xuống thành 3, 4 hay 5 mảnh; vỏ quả dày hay mỏng, hóa gỗ. Có 1 đến nhiều hạt trong mỗi ô, hình cầu, nửa cầu hay hình nêm, vỏ hạt màu nâu, nêu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng, phủ lông hay nhẵn (Agarwal, và cs. Quá trình nghiên cứu về Trà hoa vàng trên thế giới đã được thực hiện từ rất lâu và các thành phần hóa học của lá Trà hoa vàng đã được mô tả tương đối đầy đủ.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy Trà hoa vàng có khoảng 120-130 hoạt chất khác nhau, sắp xếp thành các nhóm bao gồm: nhóm đường, nhóm pectin, nhóm tinh dầu, protein, acid amin, các sắc tố, các chất vô cơ, vitamin, các enzyme, chất nhựa, các chất hữu cơ, polyphenol, tannin và flavonoid. Trong đó, nhóm các hợp chất polyphenol là thành phần được quan tâm nhiều nhất trong lá Trà hoa vàng. Các loại polyphenol này chiếm 20-35% trọng lượng chè khô ở lá búp non (Chang Hung Ta, 1981). Trà hoa vàng đã được sử dụng như một phương thuốc trong y học Phương Đông từ rất lâu.
Những tác dụng về mặt dược lý của Trà hoa vàng là do sự có mặt của các nhóm hợp chất catechin. Nhiều công trình đã công bố về tác dụng của Trà hoa vàng và các hợp chất chiết suất đối với nhiều bệnh khác nhau như: bệnh ung thư, bệnh về đường tim mạch, bệnh tiểu đường, bệnh alzheimer, bệnh parkinson, bệnh béo phì, bệnh sỏi thận, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh răng miệng, v. Ngoài ra, Trà hoa vàng còn có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol, giảm khả năng bị nhiễm độc do kim loại, do phóng xạ gây ra (Chang Hung Ta, 1991). Lá Trà hoa vàng có thể uống, điều chỉnh các chất béo trong cơ thể, lượng đường trong máu, giải độc gan và thận, theo y học Trung Quốc công bố, Trà hoa vàng có 9 tác dụng chính: Luan van 6 - Trong lá chè có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt).
- Nước sắc lá chè có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và tác dụng được duy trì trong thời gian tương đối dài. - Nước sắc lá chè có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu. - Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của các khối u khác. - Hưng phấn thần kinh.
- Lợi tiểu mạnh.