phần Mở Đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng. Tổng quan về tín ngƣỡng và nghi lễ của ngƣời Tày; Chƣơng 2. Địa bàn nghiên cứu; Chƣơng 3. Nghi lễ Then giải hạn của ngƣời Tày ở Nghĩa Đô: những quan niệm và thực hành; Chƣơng 4.
Nghi lễ Then giải hạn và ý nghĩa của nó trong văn hóa ngƣời Tày ở Nghĩa Đô. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƢỠNG VÀ NGHI LỄ CỦA NGƢỜI TÀY 1.1 Một số vấn đề về các khái niệm cơ bản Văn hóa tộc ngƣời2 là một trong những khái niệm quan trọng của dân tộc học và nhân học, bao quát các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục tập quán của một tộc ngƣời. Vì thế, những đặc trƣng văn hóa tộc ngƣời thƣờng là một trong những tiêu chí đƣợc sử dụng để phân biệt một tộc ngƣời với những tộc ngƣời khác, đồng thời là sợi dây cố kết các thành viên trong một tộc ngƣời, qua đó là cơ sở làm nảy sinh và duy trì ý thức tộc ngƣời [65, tr.
Việt Nam là một quốc gia đa tộc ngƣời, với tổng số 54 tộc ngƣời, trong đó có tới 53 tộc ngƣời đƣợc coi là các tộc ngƣời „thiểu số‟ (về mặt nhân khẩu) và chỉ có một tộc ngƣời (Kinh) là „đa số‟ (về mặt nhân khẩu). Trong bối cảnh đó, dân tộc Việt Nam và bản sắc văn hóa của Việt Nam đƣợc tạo dựng trên nền tảng văn hóa của 54 tộc ngƣời sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này tạo nên tính thống nhất của dân tộc Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, tính thống nhất về dân tộc và văn hóa này không chỉ là phép cộng đơn giản giữa những tộc ngƣời có bản sắc văn hóa khác nhau hay không hoàn toàn khác nhau cùng cƣ trú trên một lãnh thổ, mà bên cạnh đó còn là một quá trình lịch sử cố kết chống lại thiên tai, ngoại xâm qua hàng ngàn năm để tạo nên một dân tộc với một lãnh thổ và một nền văn hóa mang bản sắc Việt Nam nhƣ hôm nay.
Văn hóa tộc ngƣời đƣợc biểu hiện trên cả hai phƣơng diện, vật chất và tinh thần, vô hình và hữu hình. Trong khuôn khổ của công trình nghiên cứu 2 Trong luận văn này, để tránh sự trùng lặp về nội hàm của hai khái niệm „dân tộc‟ và „tộc ngƣời‟, tôi nhấn mạnh rằng tôi sử dụng khái niệm „tộc ngƣời‟ để nói về các tộc ngƣời cụ thể ở Việt Nam và sử dụng khái niệm „dân tộc‟ để nói về dân tộc Việt Nam nhƣ một cộng đồng dân cƣ thống nhất cƣ trú trên lãnh thổ Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này, tôi nhấn mạnh đến một khía cạnh nhỏ, ở đó có thể hiện ở những mức độ khác nhau các phƣơng diện nêu trên, đó là đời sống tín ngƣỡng và nghi lễ của tộc ngƣời Tày. Tôn giáo và tín ngƣỡng là một hay là hai khái niệm khác nhau có mối quan hệ với nhau? Khái niệm tôn giáo và tín ngƣỡng (hay tôn giáo tín ngƣỡng) đang là những vấn đề có nhiều tranh luận với những ý kiến khác nhau.
Có một số nhà khoa học có quan điểm đồng nhất tôn giáo với tín ngƣỡng và thƣờng sử dụng khái niệm „tôn giáo tín ngƣỡng‟.3 Tuy nhiên, một số ngƣời khác đã phân biệt giữa tôn giáo và tín ngƣỡng. Trong tác phẩm Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tác giả Ngô Đức Thịnh đã đƣa ra những quan niệm khá rõ ràng về tôn giáo và tín ngƣỡng. Theo tác giả, tôn giáo và tín ngƣỡng là một bộ phận của đời sống văn hóa tinh thần của con ngƣời mà ở đó con ngƣời cảm nhận đƣợc sự tồn tại của các vật thể, các lực lƣợng siêu nhiên, những thứ chi phối, khống chế con ngƣời. Tôn giáo và tín ngƣỡng là chất kết dính, tập hợp con ngƣời thành một tộc ngƣời (hoặc cộng đồng) nhất định và phân định tộc ngƣời này với tộc ngƣời khác.
Tất cả là những niềm tin, thực hành và tình cảm liên quan đến tôn giáo và tín ngƣỡng đều đƣợc sản sinh và tồn tại trong một môi trƣờng tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con ngƣời đang sống. Nhƣ vậy, dù cả tôn giáo và tín ngƣỡng đều có ý nghĩa phản ánh những niềm tin vào một hay nhiều thế lực siêu nhiên, hoặc hình thức cụ thể của tôn giáo và tín ngƣỡng, song giữa hai khái niệm này có sự khác biệt, đƣợc thể hiện rõ nhất về mặt hình thức biểu hiện, tổ chức, nhƣ tác giả Ngô Đức Thịnh đã khái quát dƣới đây. 3 Quan điểm này đƣợc thể hiện rõ trong công trình nghiên cứu Về tôn giáo (1994) của các nhà khoa học ở Viện Tôn giáo. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sự phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng Tín ngƣỡng Tôn giáo Chƣa có hệ thống giáo lý, chỉ có các Hệ thống giáo lý, kinh điển thể hiện huyền thoại, thần tích, truyền thuyết quan điểm vũ trụ và nhân sinh, truyền thụ qua học tập ở các tu viện, thánh đƣờng Chƣa thành hệ thống thần điện, còn Thần điện đã thành hệ thống dƣới mang tính chất đa thần, tản mạn dạng đa thần hay nhất thần giáo Còn có sự hòa nhập nhất định với thế Tách biệt thế giới thần linh và con giới thần linh và con ngƣời, chƣa ngƣời, xuất hiện hình thức “cứu thế” mang tính cứu thế Gắn với cá nhân và cộng đồng làng Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt xã, chƣa thành giáo hội chẽ, hình thành hệ thống giáo chức Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phần tán Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng và chƣa thành quy ƣớc chặt chẽ chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đƣờng) Mang tính chất dân gian, sinh hoạt Không mang tính chất dân gian, nếu dân gian, gắn với đời sống nhân dân có thì chỉ là sự biến dạng theo kiểu dân gian hóa nhƣ Phật giáo dân gian (Nguồn: Ngô Đức Thịnh [64; tr. 12] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nghiên cứu này, tôi thiên về cách hiểu và sự phân biệt của tác giả Ngô Đức Thịnh. Nhƣ vậy, tôn giáo và tín ngƣỡng là khác nhau ở nhiều mặt. Tín ngƣỡng đƣợc hiểu nhƣ là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng của con ngƣời của một tộc ngƣời hay một cộng đồng.
Cụ thể hơn, tín ngƣỡng, nhƣ tác giả Mai Thanh Hải định nghĩa, là: “ òng tin, sự ngƣỡng mộ, ngƣỡng vọng vào một lực lƣợng siêu nhiên thần bí; lực lƣợng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tƣợng “trời” “phật” “thần thánh” hay một sức mạnh hƣ ảo, huyền bí, vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của ngƣời ta, đƣợc ngƣời ta tin tƣởng có thật và tôn thờ” [68, tr. Trong nhiều tín ngƣỡng, nghi lễ là một thành tố quan trọng. Nghi lễ 4 là những ứng xử giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thiên nhiên, đƣợc lặp đi lặp lại thành thói quen và đƣợc thể hiện thành những quy ƣớc cuộc sống hàng ngày, trong mối quan hệ giữa xã hội với thiên nhiên, đƣợc xã hội, cộng đồng ngƣời thừa nhận. Trong thực tế, không phải mọi nghi lễ đều mang tính tôn giáo và tín ngƣỡng (chẳng hạn nhƣ chào cờ buổi sáng thứ Hai ở các trƣờng học).
Các nghi lễ mang tính tôn giáo và tín ngƣỡng thƣờng liên quan đến việc liên hệ với các thế lực siêu nhiên. Mặc dù rất đa dạng và phát triển theo nhiều cách khác nhau, nghi lễ dù dƣới dạng thô mộc thời nguyên thủy hay phức tạp trong các nền văn hóa hiện đại, đều là một tập hợp các yếu tố cơ bản gồm hành động, nhạc lễ, cầu khấn, hiến tế, nhịn ăn, định hƣớng và tấy uế…mang tính lặp đi lặp lại từ đời này sang đời khác, con ngƣời thực hành chúng và mang truyền thống về hiện tại [26; tr. Gắn với sinh hoạt xã hội, nghi lễ ra đời nhƣ một hiện tƣợng tất yếu không thể thiểu trong hoạt động của con ngƣời xã hội. Nhìn nhận về nghi lễ, Levi-Strauss (1976) đã nhận xét: 4 Có một số nhà khoa học viết là „lễ nghi‟ để phân biệt với „lễ hội‟.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Lễ nghi không phải là phản ứng lại cuộc đời, đó là phản ứng với cái mà tƣ duy làm nên cuộc đời. Đó không phải là sự đáp ứng trực tiếp đối với thế giới hoặc thậm chí là với kinh nghiệm của thế giới, mà đó là phản ứng đối với con ngƣời nghĩ về thế giới” [26; tr. Schultz và Lavenda lại cho rằng: “Nghi lễ thƣờng có bốn yếu tố chính là hoạt động xã hội lặp đi lặp lại gồm hàng loạt các động tác có tính biểu tƣợng dƣới dạng múa, hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số đồ vật nào đó; nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thƣờng ngày của xã hội; nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định do văn hóa đặt ra; hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tƣ tƣởng thƣờng xuất hiện trong huyền thoại. Mục đích của thực hiện nghi lễ là để hƣớng dẫn việc lựa chọn tƣ tƣởng nêu trên và thực thi chúng qua biểu tƣợng [26; tr.
Theo ý kiến của Victor Turner, nghi lễ là hành vi đƣợc quy định có tính chất nghi thức dành cho những dịp không liên quan đến các công việc có tính kỹ thuật hàng ngày mà có quan hệ với những niềm tin vào đấng tối cao hay sức mạnh thần bí. Và theo nghĩa hẹp, thuật ngữ này chỉ những hành động mang tính bắt buộc, chính thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo. Các nhà nhân học sử dụng thuật ngữ „nghi lễ‟ để bao hàm bất kỳ hành động nào có mức độ chính thức cao và có mục tiêu không vụ lợi [26; tr. Từ điển Nhân học thì khẳng định: “Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo - ví dụ một đại lễ Thiên chúa giáo hay một buổi hiến tế tổ tiên.
Thông thƣờng, các nhà nhân học sử dụng „nghi lễ‟ để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đích bình quân chủ nghĩa. Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà cả với khía cạnh thể hiện của toàn bộ hoạt động của con ngƣời. Trong chừng mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ hành động nào của con ngƣời cũng có khía cạnh nghi lễ” [26; tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.