đặt vấn đề nghiên cứu truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu hướng tới việc thẩm định giá trị của mảng truyện ngắn để khẳng định vị trí, sự đóng góp của ông cho văn học Việt Nam hiện đại. Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu 1. Cuộc đời của nhà văn Dương Nghiễm Mậu Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 – 11- 1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội; mất ngày 02 – 08 – 2016 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông được coi là 17 một trong số những nhà văn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam với bút hiệu là Hương Việt Hương.
Từ năm 12 đến 18 tuổi, Dương Nghiễm Mậu sinh sống và học tập ở Hà Nội. Sáng tác đầu tay của ông là đoản văn, tùy bút được in ở trang phụ trương văn nghệ của báo chuyên nghiệp. Đến năm 1954, sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, Dương Nghiễm Mậu di cư vào Nam cùng với gia đình. Từ năm 1957, ông viết nhiều đoản văn, truyện ngắn và truyện dài.
Năm 1962, ông chủ trương Tạp chí Văn nghệ với Lý Hoàng Phong và cộng tác với các báo như: Tia sáng, Thế kỷ, Sáng tạo, Giữ thơm quê mẹ, Giao điểm, Bách khoa. Ngoài ra, Dương Nghiễm Mậu còn chủ trương Nhà xuất bản Văn Xã.Ông nhận giải thưởng văn chương toàn quốc (miền Nam) năm 1966 với tập truyện Cũng đành(do Tạp chí Văn nghệ xuất bản năm 1963), truyện dài Gia tài người mẹ (Văn nghệ, 1964). Năm 1966, gia nhập quân đội Việt Nam Cộng hòa; năm 1967, Dương Nghiễm Mậu làm phóng viên mặt trận. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhà văn bị bắt đi tù cải tạo.
Năm 1977, ông chuyển sang vẽ tranh sơn mài và sinh sống bằng nghề đó tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, sau Hiệp định Giơnevơ, ông đi theo gia đình di cư vào Nam. Hoàn cảnh xã hội miền Nam sau hiệp định Giơnevơ, chiến tranh lan rộng khắp miền Nam và cả nước, sự can thiệp của người Mỹ vào cuộc chiếnkéo theo những hệ lụy làm cho xã hội miền Nam bất ổn, rối ren. Bom đạn của chiến tranh, chất độc hóa học đã rải xuống mảnh đất miền Nam khiến nhiều đồng ruộng trở thành đất hoang, hàng vạn làng mạc bị tàn phá bởi bom mìn, súng đạn.
Quân nhân Mỹ xa nhà với cuộc sống điều kiện dư dật cần có những quán bar, tụ điểm vui chơi như phòng trà, gái nhảy, v. Trong hoàn cảnh chiến tranh - lối sống của xã hội tiêu thụ kéo theocác tệ nạn hút chích, cờ bạc,v. Bên cạnh đó, trên phương diện văn hóa, sự du nhập ồ ạt văn hóa phương Tây vào miền Nam làm cho xã hội thêm phức tạp. Khác với giai đoạn tiền chiến, ở giai đoạn này, tuổi trẻ chứng kiến những biến động của xã hội cùng với việc di dân phần nào đã ảnh hưởng lối cảm, lối nghĩ, cảm quan nghệ thuật của nhà văn.
Với Dương Nghiễm Mậu, những tháng năm của tuổi trẻ đã trải qua và chứng kiến hoàn cảnh xã hội đó đã tạo cho ông những suy nghĩ và hướng đi mới trong việc đổi mới cách viết.Tạ Tỵ đã có nhận xét về cách tiếp cận hiện thực xã hội miền 18 Nam sau 1954 theo cảm quan của Dương Nghiễm Mậu như sau: “Dương Nghiễm Mậu tuy không có quyền chọn lựa hướng đi nhưng cũng chẳng sẵn sàng làm một dòng nước nhỏ, nên chấp nhận sự có mặt của mình trước cuộc sống với một thế đứng riêng biệt” (Tạ Tỵ, 2017). Tập truyện ngắn đầu tay Cũng đành (xuất bản 1963) mang đậm dấu ấn về thân phận con người trong xã hội.“Tất cả các nhân vật của Dương Nghiễm Mậu đều nghèo túng, xã hội của Dương Nghiễm Mậu là một xã hội bị chiến tranh tàn phá, ở đâu cũng còn vết tích của rạn vỡ: trong thành phố, trên cơ thể, trong tâm hồn. Một xã hội con lạc cha, vợ lạc chồng, anh em hằm hè nhau như hổ đói, người với người xem nhau như súc vật” (Đặng Tiến, 1963). Đặc biệt là sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, sự biến động trong đời sống chính trị làm cho đời sống xã hội miền Nam càng thêm phức tạp.Chủ nghĩa hiện sinh có cơ hội phát triển.
Huỳnh Như Phương trong bài viết giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh (in trong Tiến trình văn học (khuynh hướng và trào lưu), Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2019) đã viết: “…trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt và bi thảm, xã hội miền Nam tiếp xúc sâu rộng với nền văn hóa phương Tây, triết học và văn học hiện sinh được giới thiệu, quảng bá qua hệ thống giáo dục, xuất bản và báo chí”. “Từ ảnh hưởng đến văn học nghệ thuật, chủ nghĩa hiện sinh đi vào quan niệm sống và lối sống, với những tác động khá tế nhị và phức tạp. Một mặt không thế chối cãi rằng việc du nhập triết học và văn học hiện sinh góp phần dẫn đến phản ứng “nổi loạn”, “tận hưởng cuộc đời” của một bộ phận thanh niên nông nổi không tìm thấy đườngđi trong chiến tranh, như Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Xuân, Lữ Phương, Thế Nguyên, Nguyễn Trọng Văn đã từng chỉ ra” (5. Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism ), Sđd, tr.
Từ hiện thực đời sống xã hội và văn học miền Namnhư Huỳnh Như Phương diễn giải và phân tích, một số nhà văn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong đó có Dương Nghiễm Mậu. Sáng tác của Dương Nghiễm Mậu giai đoạn sau có sự biến chuyển trong tư tưởng cũng như sự dấn thân trong sáng tác. Dương Nghiễm Mậu dám nói lên tiếng nói của cá nhân mình, dùng những hình tượng cũng như số phận của nhân vật để thể hiện quan điểm cũng như lập trường viết của ông. Qua đó, khẳng định một vị thế 19 vững chắc một chỗ đứng riêng trong giới văn chương miền Nam của Dương Nghiễm Mậu.
Sự nghiệp sáng tác Dương Nghiễm Mậu đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm phong phú và đồ sộ, với hơn 20 tác phẩm, thuộc nhiều thể loại khác nhau từ truyện ngắn, truyện dài đến tiểu thuyết. Chính lối viết đặc sắc, độc đáo, không lặp lại đã tạo nên vị trí Dương Nghiễm Mậu rất riêng, một mình một thế đứng.Tiêu biểu trong thành tựu sáng tác của ông, về truyện ngắn có thể kể: Cũng đành (Tạp chí Văn nghệ, Sài Gòn, 1963), Đêm (Giao điểm, 1965), Đôi mắt trên trời (Giao điểm, 1966), Sợi tóc tìm thấy (Những tác phẩm hay, 1966), Nhan sắc (An Tiêm, 1966), Kinh cầu nguyện (Văn xã, 1967), Ngã đạn (Tân văn, 1970). Bên cạnh truyện ngắn, Dương Nghiễm Mậu có những truyện dài được độc giả chú ý như: Gia tài người mẹ (Tạp chí Văn nghệ, 1964), Đêm tóc rối (Thời mới, 1965), Tuổi nước độc (Văn, 1966), Phấn đấu (Văn, 1966), Ngày lạ mặt (Giao điểm, 1967), Gào thét (Văn uyển, 1969). Ngoài ra còn phải kể đến một số tác phẩm khác như: Địa ngục có thật (Bút ký, Văn xã, 1969), Quê người (Văn xã, 1970).
Nhìn lại quá trình sáng tác, sự nghiệp sáng tác của Dương Nghiễm Mậu chúng tôi nhận thấy có mấy điểm đáng chú ý sau: Dương Nghiễm Mậu xuất hiện trong đời sống văn nghệ miền Nam Việt Nam từ khá sớm và nhanh chóng khẳng định được tên tuổi, phong cách. Ông là nhà văn tiêu biểu của thế hệ di cư vào miền Nam. Thời kỳ viết sung sức nhất, dồi dào nhất là từ khoảng 1966 đến 1974, những sáng tác kết tinh cho quan điểm, nghệ thuật, thành tựu chính, khẳng định vị trí văn học sử, đóng góp của Dương Nghiễm Mậu cho văn xuôi miền Nam thuộc về thời gian này. Nói về quan niệm sáng tác, trên Văn nghệ số 21, Dương Nghiễm Mậu cho biết quan điểm của ông như sau: phần nhiều tác giả phải trải qua một giai đoạn viết truyện ngắn trước khi viết truyện dài; viết truyện ngắn khó hay, đòi hỏi phải có sức nén lớn, chuẩn bị và viết công phu, tập trung, liền mạch một cách tự nhiên - “tôi thường nuôi sẵn trong đầu một số truyện rồi lúc đó nào cóthì giờ là viết.
Tôi viết một hơi từ đầu đến cuối… tôi không quen cách thức làm việc kiểu thủ công nghiệp, cũng có khi điều gì đó đến bất ngờ không viết không được thì tôi 20 viết ngay.Kĩ thuật với tôi là một điều thứ yếu.Nội dung tùy thuộc vào tác giả, kĩ thuật tùy thuộc nội dung, kĩ thuật thực hiện như thế nào (từ cách chấm, phẩy, xuống dòng, ngôn ngữ…) là do nơi nội dung đòi hỏi”. Dương Nghiễm Mậu cũng cho biết ông chỉ có thể viết hay được với những truyện thực -“truyện thực trong đời sống dưới mắt tôi khủng khiếp hơn nhiều tưởng tượng. Tôi nhiều khi bất mãn với chính mình vì thấy mình bất lực trước việc diễn tả cuộc sống, suy nghĩ… Cây bút trên tay muốn vứt bỏ đi nhưng rồi vẫn phải viết” (Dương Nghiễm Mậu, 1963). Dương Nghiễm Mậu sống và viết trong tình thế cực đoan của văn hóa xã hội miền Nam.Ông vừa là nhân chứng vừa là người trong cuộc, vừa là người chịu ảnh hưởng của chiến tranh, văn hóa xã hội thời ấy, vừa là người góp phần sáng tạo ra những sản phẩm văn học phục vụ xã hội tiêu dùng.
Một trong những mối quan tâm hàng đầu trong sáng tác của Dương Nghiễm Mậu là thân phận con người. Phải là nhà văn gắn bó với thời cuộc, với đời sống, đối diện với hoàn cảnh bi đát nhãn tiền mới có những trang viết nặng trĩu suy tư về con người như Dương Nghiễm Mậu. Tạ Tỵ nhận thấy: Dương Nghiễm Mậu không phải vô tình hay vô cớ khi đặt vấn đề thân phận con người, nhất là tuổi trẻ trong phạm trù sinh hoạt thực tế, với bao nỗi băn khoăn, ám ảnh về một xã hội thối nát, bất công” (Tạ Tỵ, 1971). Cắt nghĩa về đề tài này, Tạ Tỵ nhấn mạnh đến môi trường sống phân hóa, cuộc chiến khốc liệt, sự vay mượn tư tưởng của Sartre, Camus, đặc biệt là tâm lý nhìn nhận thân phận con người, trong đó có chính bản thân nhà văn, như một định mệnh, “từ phẫn uất, Dương Nghiễm Mậu đi vào chán nản khi biết rằng thân phận mình đã bị điểm danh, nghĩa là đã được định đoạt”.
Thụy Khuê khi viết về Dương Nghiễm Mậu cũng nhận xét: mỗi nhân vật của Dương Nghiễm Mậu “là một trường hợp tự phân- tự nhận thức về bản thân- họ thuộc về cái thế giới đau đớn, bi đát của những người nhìn vào cuộc sống hiện sinh, phi lý của mình. Dương Nghiễm Mậu là một nhà văn hiện sinh, phân tích tâm lý sâu sắc. Ngòi bút của tác giả không thiên về miêu tả những cái bề ngoài của xã hội và nhân vật, mà lách sâu vào đời sống bên trong.