Nghệ Thuật Trần Thuật Trong Truyện Ngắn Của Nguyễn Thị Thu Huệ

Luận văn thạc sĩ phân tích nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, khám phá phong cách độc đáo và giá trị văn học.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nghệ thuật trần thuật

Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được phân tích qua các yếu tố như người kể chuyện và điểm nhìn. Người kể chuyện hiện diện và tiềm ẩn được khám phá, thể hiện sự đa dạng trong cách kể chuyện. Điểm nhìn bên trong và bên ngoài được kết hợp linh hoạt, tạo nên sự phong phú trong góc nhìn nghệ thuật. Phong cách kể chuyện của Nguyễn Thị Thu Huệ mang tính đặc trưng, kết hợp giữa sự tả chân và trữ tình, tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc.

1.1. Người kể chuyện

Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được chia thành hai dạng: hiện diện và tiềm ẩn. Người kể chuyện hiện diện thường xuất hiện trực tiếp, dẫn dắt câu chuyện một cách rõ ràng. Người kể chuyện tiềm ẩn lại ẩn mình, để nhân vật tự bộc lộ tâm lý và hành động. Sự đa dạng này làm nổi bật kỹ thuật trần thuật của tác giả.

1.2. Điểm nhìn

Điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được phân tích qua hai góc độ: bên trong và bên ngoài. Điểm nhìn bên trong giúp khám phá sâu sắc tâm lý nhân vật, trong khi điểm nhìn bên ngoài mang tính khách quan. Sự kết hợp và dịch chuyển điểm nhìn tạo nên sự linh hoạt trong cấu trúc truyện ngắn.

II. Quan điểm nghệ thuật và thế giới nhân vật

Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ được thể hiện qua cách xây dựng thế giới nhân vật. Nhân vật trong truyện ngắn của bà đa dạng, từ nhân vật bi kịch đến nhân vật tha hóa và nhân vật vượt lên hoàn cảnh. Nghệ thuật xây dựng nhân vật được đánh giá cao qua việc miêu tả tâm lý và xây dựng tình huống.

2.1. Thế giới nhân vật

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ phong phú, bao gồm các loại hình nhân vật bi kịch, tha hóa và vượt lên hoàn cảnh. Mỗi nhân vật đều được xây dựng với tính cách nhân vật rõ ràng, phản ánh những mâu thuẫn trong đời sống.

2.2. Nghệ thuật miêu tả tâm lý

Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm lý để khắc họa sâu sắc nội tâm nhân vật. Cách miêu tả này giúp người đọc hiểu rõ hơn về những xung đột nội tâm và sự phát triển của nhân vật trong câu chuyện.

III. Kết cấu và giọng điệu

Kết cấu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được tổ chức một cách linh hoạt, từ kết cấu đảo trật tự thời gian đến kết cấu phân mảnh và kết cấu mở. Giọng điệu trần thuật đa dạng, từ giọng trữ tình đằm thắm đến giọng chiêm nghiệm, triết lý, tạo nên sự phong phú trong cách thể hiện.

3.1. Kết cấu truyện ngắn

Kết cấu truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ bao gồm các dạng như đảo trật tự thời gian, kết cấu tâm lý và kết cấu phân mảnh. Kết cấu mở được sử dụng để tạo sự bất ngờ và để người đọc tự suy ngẫm về câu chuyện.

3.2. Giọng điệu trần thuật

Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đa dạng, từ giọng trữ tình đằm thắm đến giọng chiêm nghiệm, triết lý. Giọng lạnh lùng vô âm sắc được sử dụng để thể hiện sự khách quan và tạo nên sự khác biệt trong phong cách kể chuyện.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu truyện ngắn Người đi tìm giấc mơ là lời kể của nhân vật “tôi” – một người con gái nghèo sống đơn độc với bà, chấp nhận lấy một người đàn ông tật nguyền nhưng giàu có, mong đổi đời. Do không sinh được con nên cô bị nhà chồng đuổi đi. “Tôi đi ra đường, trên người là chiếc áo mỏng dính, gần rách. Chiếc quần tôi mặc co lại vì ngắn và cũ.

Tôi chẳng có gì ngoài hai thứ đó. Những lời 16 kể đầu tiên đã giúp người đọc hình dung về một người tàn tạ, nghèo khổ đi vô định hướng. Ngoại hình nhân vật đã tạo ấn tượng mạnh để tiếp nối vào mạch kể về số phận đắng cay. Tất cả quá khứ đều hiện về trong tâm trí người đàn bà tội nghiệp: „Những cái tát, những trận phang gậy vào người gần hai năm nay tôi đã quen”.

Người thân duy nhất của cô là người bà, nhưng “Đêm ấy. Tại tôi nên bà chết”. Hành trình đi của tôi mà những người xung quanh gọi là “kẻ điên” đã đến nơi “Bờ sông cao. Nước sông Hồng đỏ đặc phù sa.

Tôi thường tưởng tượng ra một ngày nào đó mình sẽ ở trên thiên đường và tự hỏi: Nếu chết linh hồn mình sẽ đi đâu khỏi cái xác thối rữa?”. Kết thúc truyện là hình ảnh cô đang ngủ và tiếp tục mơ về những điều tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Người kể chuyện xưng “tôi” – đồng thời là nhân vật chính trong chuyện, hầu hết là những phụ nữ bất hạnh trong tình yêu. Cái tôi kể chuyện và cái tôi từng trải đã hòa nhập làm một trong những trang văn chất chứa nỗi niềm.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà phê hình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt như thế - vừa bụi bặm trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, vừa táo tợn, vừa thanh khiết”. Cái bụi bặm hiện lên qua lời kể của người mẹ trong Hậu thiên đường về những va vấp của tuổi trẻ để đến 16 năm sau chị phải sống trong đơn côi lạnh lẽo. Sự tả chân đã đem lại cho người đọc cảm giác vỡ mộng khi người kể chuyện xưng “em” trong Một chiều mưa đang hụt hẫng, tan nát vì phát hiện vị cứu tinh của mình đang ngồi cạnh một người con gái khác. “Cô ta tóc rất ngắn, còn ngắn hơn cả tóc em, xinh và tươi rói.

Em chết lặng”. Lời kể của nhân vật xưng “tôi” cũng thắm đượm vẻ trữ tình đằm thắm khi kể về những mong ước, những khát khao tình yêu và hạnh phúc rất con gái: “Tôi luôn ao ước được đi chơi với anh. Tất cả những lần chúng tôi rong ruổi trên các con đường. Lúc nhập nhoạng tối.

Tôi đều thấy các con đường, các hàng cây thật đáng yêu và tuyệt đẹp. Cũng như bây giờ. Suốt thời gian đã qua của tôi chưa bao giờ trăng đẹp như thế” (Còn lại một vầng trăng). Những trang văn của Nguyễn Thị Thu Huệ thanh khiết khi kể về những cái tôi – những người con gái, những người phụ nữ còn rất trẻ tự kể về mình.

Trong 13 truyện có người kể chuyện là nhân vật nữ xưng “tôi” thì có 7 truyện được trần thuật từ người kể chuyện là những cô gái trẻ tuổi, trẻ lòng, đầy mộng mơ và ước vọng về tình yêu. Đó là cô bé sắp tròn mười tám tuổi vào ngày mai, mơ thấy người mẹ bỏ hai bố con theo tình cũ. Đôi giày đỏ mẹ chưa kịp đi khi vội vã theo người ta trong 17 dịp sinh nhật con, mẹ tặng lại cho con (Đôi giày đỏ). Trong Biển ấm, người kể chuyện là cô gái mới hai mươi tuổi, dám tự tìm đến với người yêu – người đàn ông hơn cô mười hai tuổi.

Đất Quảng Ninh với những hầm than là thế giới của anh. Với cô lúc ấy tất cả thấm đẫm một sắc màu huyền ảo bởi “tôi” nhìn chúng bằng ánh mắt kẻ đang yêu. “Tôi” trong Còn lại một vầng trăng cũng hồn nhiên bày tỏ niềm hạnh phúc của mình: “Tôi biết mơ mộng từ ngày yêu anh. Biết nhớ mong, dỗi hờn từ ngày có anh.

Và đêm nay. Biết trăng đẹp vì đi bên anh”. Hoàng hôn màu cỏ úa lại là cảm nhận của người kể chuyện xưng „tôi” trong một buổi chiều chia tay cuối cấp ba đong đầy bao kỷ niệm. Thành phố không mùa đông là câu chuyện của cô gái trẻ ngỡ ngàng biết tin cha mẹ chia tay nhau, cô theo người bạn lên công viên.để khuây khỏa những nỗi buồn vẫn nghẹn thắt con tim.

Cát đợi là lời kể của người con gái đã trao thân mình ở một vũng cát bên bờ biển khi đang ở độ tuổi học trò. Trong Một chiều mưa, “em” đứng dưới gốc dâu da con con có mấy chùm hoa trắng như hoa sấu để đợi anh mà không thấy anh đến. Chợt gặp anh tình tứ với người con gái khác, “em” mới biết mình bị mắc lừa một kẻ Sở Khanh. Không đi vào những chuyện quá lớn lao, nhân vật con gái – đàn bà trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ tự kể về câu chuyện nhỏ bé rất riêng của mình.

Là tình yêu trong sáng nguyên sơ nhưng bị lừa lọc bởi những người đàn ông từng trải. Là khát khao hạnh phúc vừa trẻ con, vừa ngây thơ lại rất đỗi đàn bà. Là sai lầm vì bồng bột và cả tin. Tất cả những trái ngang, những mộng mơ, những hụt hẫng và đau đớn sâu kín nhất của người phụ nữ đều được những nhân vật xưng “tôi” tỏ bày trên trang viết.

Truyện thiên vể kể, tâm sự nên lời văn thấm đẫm cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Đối thoại trong truyện ít. Những sự kiện, biến cố xảy ra chỉ là “cái cớ” để người kể chuyện bộc lộ tâm trạng và suy tư cá nhân. Có lẽ vì thế mà ở một số truyện, người đọc có cảm giác đọc truyện như đang bước vào những trang nhật ký của người phụ nữ đầy chân thực, chân thành, cảm động.

Nói lúc này, Nguyễn Thị Thu Huệ đang “rút ruột” ra để viết cũng không sai. Nữ giới – viêt văn là họ “tự ăn mình”. Trong 24 truyện ngắn được trần thuật từ ngôi thứ nhất tập hợp từ 5 tập truyện trước, ngoài 13 truyện được kể bằng lời nhân vật nữ, còn 11 truyện có người kể chuyện xưng “tôi” là nhân vật nam. Trong đó, người kể chuyện đứng bên trong truyện đóng vai nhân vật chính xuất hiện ở 5 truyện (Người đàn bà ám khói, Sơ-ri đắng, Ám ảnh, Minu xinh đẹp, Những đêm thắp nắng).

Người kể chuyện đứng 18 bên trong truyện đóng vai người quan sát xuất hiện ở 6 truyện (Nước mắt đàn ông, Dĩ vãng, Chị tôi, Một chuyến đi, Cõi mê, Màu ngả sắc đỏ). Với vai trò là một nhân vật chính của truyện, người kể chuyện là một nhân vật nam xưng “tôi” thường kể về những câu chuyện của bản thân có liên quan đến nhân vật khác là người phụ nữ. Đối thoại trong truyện được xây dựng nhiều hơn nhằm bộc lộ suy nghĩ và tính cách, bản chất của người đàn ông. Người đàn bà ám khói là hình ảnh của người tình cũ trong mắt người kể chuyện là “tôi” khi gặp lại trong một đám tang.

Người kể chuyện bộc lộ là một kẻ nghiệt ngã, vô tình, sĩ diện và tàn nhẫn. Sơ-ri đắng là cảm nhận của người kể chuyện xưng “tôi” khi giữ mãi tình yêu với người con gái đã chết vì một kẻ vô lại, vô tình. Trong Những đêm thắp nắng – nhân vật “tôi” kể về câu chuyện của chính mình khi bị một phụ nữ có gia đình bội bạc và dối trá ngay trước mặt. Riêng hai truyện Ám ảnh và Minu xinh đẹp, người kể chuyện lại kể về câu chuyện khác, không phải là tình yêu.

Ám ảnh là câu chuyện của chàng trai tên Thành mơ về người cha tàn nhẫn, hắt hủi mẹ để đi với người tình, anh vừa qua tuổi vị thành niên đã bắn chết hai mẹ con người tình của bố. Anh bị kết tội tử hình, lúc chết chỉ kịp gọi hai tiếng “Mẹ ơi”. Minu xinh đẹp được kể bằng lời của nhân vật xưng “tôi” – một thiếu tá đã về hưu, mong đổi đời nhờ nuôi chó nhưng thất bại. Những nhân vật này góp phần khắc họa thế giới đàn ông đa dạng trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.

Đối với hình tượng người kể chuyện xưng “tôi” chỉ đóng vai trò là người quan sát, 6 truyện được trần thuật lại một cách tương đối khách quan. Trong Nước mắt đàn ông, “tôi” – một đứa cháu ruột kể về nỗi đau riêng của cậu mình khi không hạnh phúc trong cuộc sống gia đình, khi người yêu bỏ đi và vật chứng của tình yêu bị giết bởi chính tay người vợ. Dĩ vãng được kể bằng nhân vật “tôi” – một anh lính đến thăm thủ trưởng của mình – ông Xung đang sống trong cô đơn tột độ. Nhờ người kể chuyện là người chứng kiến ở hai khoảng đời của nhân vật chính nên những thay đổi của nhân vật chính được trần thuật lại rất chi tiết, cụ thể.

Chị tôi là câu chuyện của người kể chuyện xưng “tôi” – một sinh viên đại học sống nhờ đồng tiền buôn thuốc lá dạo của chị ở bến tàu. Chị chết vì tại nạn lúc qua đường, để lại nỗi ân hận và thương xót vô bờ trong lòng “tôi”. Người kể chuyện hiện diện trong Một chuyến đi là chàng trai vừa tròn 18 tuổi, kể về người cậu đi bộ đội, lúc trở về đã là thương binh. Cõi mê là câu chuyện về người cô bị điên được một người đàn ông khỏe mạnh, bình thường cưới làm vợ.

Người trần thuật trong truyện là đứa cháu 19 ruột của cô. Người kể chuyện xưng “tôi” trong Màu ngà sắc đỏ là một người đã cứu vớt một người con gái tên Hạnh phải nạo phá thai vì yêu Hưởng. Câu chuyện chủ yếu diễn ra trong đối thoại giữa tôi và Hưởng, từ đó những vấn đề của câu chuyện tình yêu tình yêu riêng tư, bản chất của người đàn ông làm Hạnh khổ lộ diện. “Tôi” đóng vai trò là người cật vấn, nói lên tiếng nói của cá nhân nhưng cũng là băn khoăn và cảm nhận của số đông khi biết chuyện này.

Thương Hạnh và trách móc, giận người đàn ông bao nhiêu, “tôi” càng hỏi dồn dập bấy nhiêu. Lúc đầu, cán cân đối thoại nghiêng về “tôi” vì tôi là là kẻ nắm bằng chứng, “tôi” đã làm một hành động cao thượng là cứu Hạnh. Hưởng lúc này là kẻ tội đồ. Thế nhưng dần dần, qua sự kể lể giải thích của Hưởng, cán cân ấy lại nghiêng về phía người đàn ông đã có vợ và vô trách nhiệm với người tình.

“Tôi” từ bực bội đã chuyển sang thương cảm cho anh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghệ Thuật Trần Thuật Trong Truyện Ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ" khám phá sâu sắc về phong cách kể chuyện độc đáo của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, một trong những tác giả nổi bật của văn học Việt Nam hiện đại. Bài viết phân tích cách tác giả sử dụng ngôn ngữ, cấu trúc truyện và các yếu tố nghệ thuật để tạo nên những tác phẩm giàu cảm xúc và ý nghĩa. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự tinh tế trong cách xây dựng nhân vật, bối cảnh và tình huống, từ đó cảm nhận sâu sắc hơn thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.

Nếu bạn quan tâm đến các phân tích tương tự về nghệ thuật văn học, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ văn học đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết hồ anh thái để hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của một tác giả khác. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ đặc điểm cách sử dụng từ ngữ trong truyện ngắn và tạp văn của nguyễn ngọc tư sẽ mang đến góc nhìn chi tiết về ngôn ngữ trong văn học. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ ngữ văn văn xuôi việt nam giai đoạn 1975 đến nay từ cách đọc chấn thương cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của văn xuôi Việt Nam, giúp bạn mở rộng kiến thức về chủ đề này.