Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay từ cách đọc chấn thương do nghiên cứu sinh Đặng Hoàng Oanh thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2022), chuyên ngành Lí luận văn học (mã số 9.20), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Lưu Oanh và TS. Trần Ngọc Hiếu.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

  • Tính cấp thiết: Đầu những năm 1990, lí thuyết chấn thương phát triển thành một khuynh hướng lí luận phê bình nổi bật trong bối cảnh học thuật phương Tây, thuộc khúc ngoặt đạo đức của lí thuyết đương đại. Văn học, đặc biệt là thể loại văn xuôi, sở hữu ưu thế trong việc biểu đạt, lưu giữ và gọi tên các trạng thái chấn thương của con người. Tại Việt Nam, hiện thực lịch sử chiến tranh và đời sống thế sự thời hậu chiến để lại nhiều sang chấn tâm lí phức tạp trong kí ức cộng đồng và cá nhân. Tuy nhiên, việc áp dụng lí thuyết chấn thương vào nghiên cứu văn học trong nước vẫn còn hạn chế.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Trong lĩnh vực khoa học nhân văn tại Việt Nam, chưa có công trình nào tổng thuật, giới thiệu và cập nhật hệ thống lí thuyết chấn thương một cách toàn diện. Bộ phận văn học mô tả chấn thương chưa được quan tâm tương xứng, nội hàm khái niệm chấn thương chưa được xác định chính xác, và chủ đề chấn thương trong đời thường chưa được phân tích chuyên sâu.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Khẳng định vị trí, vai trò của lí thuyết chấn thương trong khoa học nhân văn hiện đại và tính khả dụng của lí thuyết này trong nghiên cứu văn học; thiết lập mô hình đọc chấn thương với hệ thống thao tác cụ thể.
    2. Khẳng định ưu thế của cách đọc chấn thương đối với bộ phận văn xuôi Việt Nam sau năm 1975; khám phá đặc sắc về nội dung tư tưởng và hình thức biểu đạt của một số tác phẩm văn xuôi giai đoạn từ 1975 đến nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khái quát diễn trình phát triển của lí thuyết chấn thương, giải thích các khái niệm cơ bản, xác lập khung lí thuyết tiếp cận văn bản.
    2. Sử dụng văn chương làm chất liệu để nhận diện các giải phổ chấn thương, chất vấn các cơ chế gây ra, bảo lưu hoặc làm quên lãng chấn thương trong đời sống lịch sử và đời thường.
    3. Phân tích các đặc điểm thi pháp và cấu trúc tự sự trong lối viết chấn thương của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay dưới góc nhìn của cách đọc chấn thương.
  • Phạm vi và tư liệu nghiên cứu: Các tác phẩm thuộc các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kí của văn xuôi Việt Nam từ năm 1975 đến nay, kết hợp hệ thống văn bản lí thuyết phê bình chấn thương trong nước và quốc tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng thuật lịch sử hình thành và phát triển của lí thuyết chấn thương qua ba chặng đường chính trong lịch sử học thuật thế giới:

Chặng phát triển Thời gian & Tác giả tiêu biểu Công trình & Luận điểm trọng tâm
Chặng 1: Manh nha Nửa sau TK XIX – đầu TK XX
- John Ericsson (1860)
- Jean Martin Charcot, Pierre Janet
- Josef Breuer & Sigmund Freud (1895, 1920)
- Nhận diện chấn thương từ tổn thương thể chất sang tổn thương tinh thần qua tai nạn đường sắt (cú sốc cột sống).
- Nghiên cứu chứng cuồng loạn (hysteria).
- Freud và Breuer (Nghiên cứu về chứng cuồng loạn 1895) đề xuất khái niệm trải nghiệm muộn màng (Nachträglichkeit).
- Freud (Sâu xa hơn nguyên tắc không đổi 1920) phân tích hiện tượng shellshock, tính lặp lại mang tính bắt buộc (compulsion of repeat) và sự rạn vỡ của bản ngã (ego).
Chặng 2: Trỗi dậy Thập niên 1990 (Trường phái Yale)
- Geoffrey Hartman (1993, 1995, 1996)
- Shoshana Felman & Dori Laub (1992)
- Cathy Caruth (1995, 1996)
- Thành lập Kho lưu trữ video Fortunoff Holocaust tại Yale (1980), phát triển hướng nghiên cứu văn chương chứng nhân.
- Công trình Bằng chứng, Sự khủng hoảng của chứng nhân... (1992) nghiên cứu vai trò của kí ức và chứng ngôn.
- Cathy Caruth (Kinh nghiệm không được thừa nhận... 1996) xác lập mô hình chấn thương cổ điển: tính bất khả biểu đạt của ngôn ngữ, trải nghiệm muộn màng (latency), mối liên kết giữa chấn thương cá nhân và lịch sử.
Chặng 3: Đa dạng hóa, đa phương hóa Thập niên 2000 đến nay (Hậu Caruthian)
- Ruth Leys (2000)
- Dominick LaCapra
- Michelle Balaev (2008, 2012, 2014)
- Wendy S. Hesford, Puleng Segalo
- Roger Luckhurst, Gerd Bayer, J. Treglown (2018)
- Ruth Leys (Trauma: A Genealogy) phê phán cách đọc Freud của Caruth, lấy thôi miên làm nền tảng phả hệ.
- Dominick LaCapra đặt lịch sử và tiếng nói nhân chứng làm trọng tâm.
- Michelle Balaev đề xuất mô hình lí thuyết đa nguyên (pluralism theory) và lí thuyết địa điểm.
- Nghiên cứu chấn thương mở rộng sang lí thuyết diễn ngôn, giới, chủng tộc, bạo lực tình dục, hậu thuộc địa và lí thuyết cảm xúc (Affect theory).
- Hoạt động học thuật qua The Journal of Literature and Trauma Studies (2012–2018) và chuyên khảo Chấn thương và văn học (Cambridge UP, 2018).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án định vị là công trình đầu tiên tại Việt Nam hệ thống hóa tiến trình lí thuyết chấn thương từ cội nguồn y khoa, phân tâm học đến các nhánh phê bình văn học đương đại. Luận án khắc phục giới hạn của mô hình chấn thương truyền thống (vốn tập trung vào sự kiện lịch sử thảm họa quy mô lớn) bằng cách mở rộng sang phân tích các dạng thức chấn thương trong đời sống thường nhật và giải mã sự biến đổi cấu trúc tự sự trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm chấn thương: Luận án tiếp thu định nghĩa của Cathy Caruth, xem chấn thương là trải nghiệm tinh thần trước những sự kiện đột ngột, vượt ngưỡng chịu đựng thông thường, không được nhận thức trọn vẹn tại thời điểm xảy ra mà lưu lại trong vô thức, sau đó tái hiện không kiểm soát qua hồi ức, ác mộng và sự phân mảnh của bản ngã.
  • Tính bất khả biểu đạt và cơ chế ngụy trang: Dựa trên phân tích của Caruth về Vết thương và giọng nói, chấn thương tạo ra nghịch lí trong ngôn ngữ; các sự kiện gây đau thường lẩn tránh ngôn từ quy ước và chỉ phát lộ qua ngôn ngữ tiềm thức, giấc mơ, hoặc trạng thái câm lặng.
  • Mối liên hệ giữa chấn thương cá nhân và tập thể: Vận dụng cách đọc của Freud trong Moses và Nhất thần luận cùng các nghiên cứu của Dominick LaCapra, luận án nhìn nhận lịch sử như một cấu trúc chứa đựng những vết thương bị che giấu hoặc ngụy trang, có khả năng di căn qua các thế hệ.
  • Khung phân tích diễn ngôn và xã hội: Tích hợp quan niệm vô thức xã hội (Erich Fromm), lí thuyết diễn ngôn quyền lực (Michel Foucault), nghiên cứu về chuẩn tắc xã hội và bạo lực giới (Judith Butler, Wendy S. Hesford) và lí thuyết cảm xúc (Affect theory, Amos Goldberg) để xem xét chấn thương như một kiến tạo văn hóa - xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp lí luận văn học với phân tâm học, triết học, văn hóa học và xã hội học để giải mã các hiện tượng tâm lí và diễn ngôn chấn thương.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt các biểu hiện chấn thương trong mối quan hệ hữu cơ với tiến trình vận động của văn học Việt Nam sau năm 1975 và hệ thống lí thuyết chấn thương thế giới.
  • Phương pháp loại hình: Sử dụng để phân loại các dạng thức chấn thương (chấn thương lịch sử, chấn thương đời thường) và phân loại các kiểu nhân vật chấn thương trong văn bản.
  • Phương pháp phân tích cấu trúc văn bản nghệ thuật: Thao tác trực tiếp trên các tầng bậc ngôn ngữ, người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật và kết cấu của tác phẩm văn xuôi.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Tư liệu khảo sát bao gồm các tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn, kí) tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1975 đến nay, đối sánh với các văn bản văn học và tài liệu nghiên cứu quốc tế (Sigmund Freud, Cathy Caruth, Geoffrey Hartman, Shoshana Felman, Ruth Leys, Michelle Balaev, Svetlana Alexievich, Wislawa Szymborska, Natascha Wodin).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 trình bày hệ thống lịch sử lí thuyết chấn thương thế giới và khảo sát diện mạo văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 như một chất liệu phù hợp cho cách đọc chấn thương.

  • Diễn trình lí thuyết: Phân tích ba giai đoạn phát triển từ y học thế kỉ XIX, qua phân tâm học của Freud, làn sóng thứ nhất tại Đại học Yale thập niên 1990 (Cathy Caruth, Geoffrey Hartman, Shoshana Felman), đến bước ngoặt đa nguyên hóa đương đại (Ruth Leys, Dominick LaCapra, Michelle Balaev).
  • Văn xuôi Việt Nam sau 1975: Luận án chỉ ra sự khác biệt giữa văn học giai đoạn trước và sau năm 1975. Trước năm 1975, văn học mang cảm hứng sử thi lãng mạn, nỗi đau cá nhân hòa vào cái bi hùng của cộng đồng (dẫn chứng nhân vật Tnú trong Rừng xà nu trải qua bi kịch mất vợ con và cụt mười ngón tay nhưng không mang trạng huống nhân vật chấn thương mà biểu trưng cho ý chí trả thù). Sau năm 1975, khi tư duy sử thi nhường chỗ cho nhận thức thế sự - đời tư, các vết thương chiến tranh và sang chấn tinh thần cá nhân mới bắt đầu được cất lên tiếng nói.

Chương 2: Nhận diện chấn thương và văn học chấn thương

Chương 2 xây dựng mô hình lí thuyết tiếp cận văn bản thông qua việc xác lập khái niệm và cơ chế vận hành của chấn thương trong văn học.

  • Cơ chế hoạt tác của chấn thương: Làm rõ các khái niệm thời kì ủ bệnh (latency), sự lặp lại mang tính bắt buộc (compulsion of repeat), và tính chất đến trễ (belatedness). Phân tích sự đứt gãy, phân mảnh của bản ngã khi kí ức bị dồn nén vào vô thức.
  • Bạo lực tiềm ẩn và diễn ngôn quyền lực: Luận giải bạo lực không chỉ tồn tại ở các biến cố thảm họa mà còn ngầm ẩn trong đời sống thường nhật thông qua các cơ chế kiểm soát xã hội.
  • Khủng hoảng ngôn ngữ và tính bất khả biểu đạt: Phân tích trạng thái bất lực của ngôn từ trước nỗi đau vượt ngưỡng qua các tác phẩm văn học thế giới (Những nhân chứng cuối cùng của Svetlana Alexievich, Trại đói ở Jaslo của Wislawa Szymborska, Người đến từ Mariupol của Natascha Wodin).
  • Phân loại văn học chấn thương: Xác định các tiêu chí nhận diện thể loại văn xuôi chứng nhân và văn học viết về chấn thương.

Chương 3: Một số chủ đề chấn thương trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay

Chương 3 triển khai khảo sát nội dung phản ánh của văn xuôi Việt Nam đương đại qua hai trục không gian - thời gian chính:

Chủ đề chấn thương trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
  • Chấn thương lịch sử: Phân tích cơ chế tái hiện kí ức chiến tranh thời hậu chiến, sự di căn của các biến cố lịch sử vào đời sống tâm lí cá nhân, và các mô hình nhân vật chịu tổn thương từ quá khứ.
  • Chấn thương trong đời thường: Đi sâu nhận diện các xung đột vô hình trong không gian đời thường, bạo lực giới, các quy chuẩn văn hóa - gia đình đè nén cá nhân, tạo ra sự khủng hoảng bản thể trong xã hội hiện đại.

Chương 4: Chấn thương và cấu trúc tự sự trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay

Chương 4 khảo sát các phương thức biểu hiện nghệ thuật và tổ chức hình thức trần thuật tương ứng với trải nghiệm chấn thương:

  • Người kể chuyện và đạo đức tự sự: Khảo sát vị thế, thẩm quyền của người kể chuyện chấn thương; sự dịch chuyển từ người kể chuyện toàn tri mang tính quyền uy sang người kể chuyện bị tổn thương, hoài nghi, mang tính chứng nhân.
  • Sự đa bội của điểm nhìn trần thuật: Cấu trúc trần thuật phân mảnh, lắp ghép nhiều điểm nhìn khác nhau nhằm tái hiện sự phân rã của kí ức chấn thương.
  • Sự khủng hoảng của ngôn ngữ: Phân tích các thủ pháp nghệ thuật thể hiện sự bất lực của ngôn từ (khoảng trống văn bản, sự im lặng, câu văn ngắt quãng, biểu đạt tượng trưng qua giấc mơ và ảo giác).
  • Hiệu ứng tác động cảm xúc (Affect theory) và kết cấu mở: Xem xét cách thức văn bản tác động trực tiếp lên trường cảm xúc của người tiếp nhận và việc sử dụng kết cấu mở như một tất yếu hình thức, phản ánh tính chất không thể khép lại hay chữa lành hoàn toàn của vết thương tinh thần.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên trong nước giới thiệu có hệ thống lịch sử hình thành, các trường phái nghiên cứu và nội dung cơ bản của lí thuyết chấn thương từ cội nguồn y khoa, phân tâm học đến các tiếp cận văn hóa - diễn ngôn đương đại.
  • Xây dựng mô hình đọc chấn thương trong nghiên cứu văn học, cung cấp hệ thống thuật ngữ, khái niệm công cụ và thao tác phân tích cho giới nghiên cứu lí luận phê bình tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Ứng dụng thành công lí thuyết chấn thương vào việc đọc và diễn giải văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay, làm rõ tính liên tục và sự chuyển biến trong việc biểu đạt hiện thực đời tư - thế sự thời hậu chiến.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát của văn học chấn thương sang mảng đề tài đời thường và bạo lực thường nhật – một bình diện chưa từng được khảo sát hệ thống trong các nghiên cứu trước đây.
  • Khẳng định tính đặc thù lịch sử - dân tộc kết hợp với tính phổ quát nhân loại của văn xuôi Việt Nam đương đại, tạo tiền đề kiểm chứng khả năng tiếp nhận lí thuyết phương Tây vào chất liệu văn học bản địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn tư liệu và mục tiêu đề tài, luận án không thể bao quát toàn bộ các công trình lí thuyết chấn thương trên thế giới; đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu vào ba thể loại văn xuôi chính (truyện ngắn, tiểu thuyết, kí) của văn học Việt Nam từ năm 1975 đến nay mà chưa mở rộng sang các thể loại như thơ, kịch hoặc văn học các giai đoạn trước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng mô hình đọc chấn thương sang các thể loại nghệ thuật khác (sân khấu, điện ảnh) và các thời kì văn học trung đại, cận - hiện đại; đào sâu đối thoại giữa lí thuyết chấn thương với các phân nhánh lí thuyết đương đại như phê bình sinh thái, lí thuyết giải thực dân, và lí thuyết không gian.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lí luận văn học, Văn học Việt Nam và Văn học so sánh.
    • Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cần tài liệu tham khảo về các trường phái lí thuyết đương đại.
    • Các nhà phê bình văn học thực hành tiếp cận văn bản đương đại từ góc độ liên ngành.
  • Nội dung giá trị:
    • Hệ thống tài liệu tổng quan và lược dịch thuật ngữ lí thuyết chấn thương ở Chương 1 và Chương 2.
    • Khung thao tác phân tích cấu trúc tự sự và thi pháp chấn thương ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác lập quan niệm về chấn thương như thế nào dựa trên sự kế thừa Cathy Caruth?

Luận án kế thừa quan điểm của Cathy Caruth khi xác định chấn thương là trải nghiệm tinh thần trước các biến cố vượt ngưỡng, có tính chất đến trễ (latency) và hoạt động theo cơ chế vô thức (Nachträglichkeit). Đồng thời, luận án mở rộng giới hạn mô hình cổ điển của Caruth bằng cách kết hợp lí thuyết diễn ngôn, xem chấn thương không chỉ bắt nguồn từ các thảm họa lịch sử quy mô lớn mà còn phát sinh từ các cơ chế bạo lực ngầm ẩn trong đời sống thường nhật.

2. Ba giai đoạn phát triển của lí thuyết chấn thương thế giới được phân chia ra sao?

  • Chặng 1 (Manh nha): Nửa sau thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, khởi đầu từ các nghiên cứu y khoa về tai nạn đường sắt (John Ericsson), các nghiên cứu về chứng hysteria (Charcot, Janet), và hệ thống phân tâm học của Sigmund Freud, Josef Breuer.
  • Chặng 2 (Trỗi dậy): Thập niên 1990 tại Hoa Kì với nòng cốt là trường phái Yale (Geoffrey Hartman, Shoshana Felman, Dori Laub, Cathy Caruth), gắn liền với nghiên cứu kí ức thảm họa Holocaust và văn chương chứng nhân.
  • Chặng 3 (Đa dạng hóa, đa phương hóa): Từ năm 2000 đến nay với các học giả hậu Caruthian (Ruth Leys, Dominick LaCapra, Michelle Balaev), mở rộng sang mô hình lí thuyết đa nguyên, lí thuyết diễn ngôn, giới, sắc tộc và lí thuyết cảm xúc.

3. Vì sao nhân vật Tnú trong tác phẩm "Rừng xà nu" không được xem là nhân vật chấn thương theo cách tiếp cận của luận án?

Theo luận án, nhân vật Tnú dù trải qua mất mát và tra tấn khốc liệt (vợ con bị giết, mười ngón tay bị đốt cụt một đốt), nhưng văn học trước năm 1975 vận hành theo cảm hứng sử thi lãng mạn. Trong không gian sử thi, nỗi đau cá nhân bị hòa vào chủ âm ngợi ca, bi hùng của cộng đồng; thương tích của Tnú trở thành biểu tượng của ý chí quật khởi và lòng căm thù giặc chứ không được mô tả như một trạng thái sang chấn tâm lí dai dẳng hay sự phân rã của bản thể.

4. Luận án khảo sát những chủ đề chấn thương nào trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975?

Luận án khảo sát hai chủ đề chính tại Chương 3:

  1. Chấn thương lịch sử: Cơ chế hình thành chủ đề, cảm thức chấn thương từ chiến tranh và các biến cố quá khứ, cùng các kiểu nhân vật cựu binh, nhân chứng.
  2. Chấn thương trong đời thường: Các hình thái bạo lực vô hình trong đời sống thường nhật, cảm thức rạn vỡ bản ngã và các kiểu nhân vật chịu tổn thương tâm lí trong gia đình và xã hội hiện đại.

5. Những yếu tố cấu trúc tự sự nào được phân tích trong văn học chấn thương ở Chương 4?

Chương 4 phân tích bốn yếu tố cấu trúc tự sự:

  1. Sự chuyển biến về vị thế, đạo đức và thẩm quyền của người kể chuyện cùng tính đa bội của điểm nhìn trần thuật.
  2. Hiện tượng khủng hoảng của ngôn ngữ và tính bất khả biểu đạt trực tiếp của nỗi đau.
  3. Hiệu ứng tác động cảm xúc (Affect theory) trong văn bản tự sự.
  4. Kết cấu mở như một hình thức biểu đạt bản chất dở dang, không thể khép lại của chấn thương.

Kết luận

Luận án Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay từ cách đọc chấn thương của tác giả Đặng Hoàng Oanh là công trình nghiên cứu lí luận văn học hệ thống hóa quá trình phát triển của lí thuyết chấn thương từ cội nguồn phân tâm học đến các khuynh hướng phê bình đương đại. Bằng việc xây dựng mô hình đọc chấn thương và vận dụng phương pháp phân tích liên ngành, luận án đã làm rõ diện mạo, các chủ đề chấn thương lịch sử và đời thường, cũng như sự biến đổi của cấu trúc tự sự trong văn xuôi Việt Nam thời kì hậu chiến. Công trình đóng góp cơ sở phương pháp luận cho việc tiếp nhận lí thuyết văn học hiện đại và cung cấp tư liệu học thuật giá trị cho nghiên cứu văn xuôi Việt Nam đương đại.