mở đầu, Cathy Caruth đã nhắc tới trải nghiệm muộn màng của kinh nghiệm chấn thương – quan điểm bà kế thừa từ Freud và sẽ được phát triển sâu hơn trong những công trình về sau. Tuy nhiên, trong giới hạn của một bài giới thiệu, thay vì đi xác lập khái niệm chấn thương, Cathy Caruth quan tâm tới tác động của kinh nghiệm chấn thương đối với phân tâm học trên cả thực hành lẫn lí thuyết, cùng những khía cạnh khác của văn hóa như văn chương và sư phạm, cấu trúc của lịch sử qua văn bản và phim ảnh, chủ nghĩa tích cực chính trị và xã hội. Những chủ đề đó được triển khai trong một loạt các bài viết của Shoshana Felman, Dori Laub, Henry Kristal, Harold Bloom, Van Der Kolk… Chấn thương được nhận diện dưới nhiều góc nhìn, trong cuộc đối thoại rộng rãi với nhiều văn bản, nhiều ngữ cảnh. Năm 1996, chuyên luận Kinh nghiệm không được khẳng định, chấn thương, trần thuật và lịch sử (Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, History) của Cathy Caruth được ấn hành và gây tiếng vang lớn.
Cuốn sách được xem là văn bản kinh điển của phê bình chấn thương. Từ đây, lí thuyết chấn thương bắt đầu xác lập nội hàm của nó trong lĩnh vực nghiên cứu. Công trình của Caruth một mặt tiếp thu những quan điểm về chấn thương của Freud, mặt khác phát triển lí thuyết của mình, với hệ thống ý tưởng được xem là rất thời thượng và có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu nhân văn, đặc biệt ở ở Hoa Kì. Cuốn sách bao gồm 5 phần chính trong đó có thể thấy được khả năng bao quát, kết nối những vấn đề thuộc những chủ đề khác nhau như phân tâm học của Freud, lí thuyết chấn thương và rối loạn tâm lí hậu chấn, nghiên cứu lịch sử và văn hóa, lí thuyết về đạo đức… và tất cả đều được soi chiếu từ góc nhìn của lí thuyết chấn thương.
Đặc biệt, Cathy Caruth chú ý đến tính không đồng hóa được của chấn thương dẫn đến việc quay trở lại đầy ám ảnh của nó. Cathy Caruth cho rằng chấn thương luôn tạo ra được những nghịch lí kép trong ý thức và ngôn ngữ. Một mặt ta rất muốn biết ý nghĩa của quá khứ, nhưng mặt khác ta lại không thể hiểu nổi nó. Kinh nghiệm chấn thương, theo bà, nó vượt quá chiều kích tâm lí của sự chịu đựng.
Mâu thuẫn từ đó nảy sinh: một mặt thấy đe dọa của cái chết, một mặt ta phải sinh tồn. Bạo lực luôn xuất hiện theo cách ta không thể ngờ tới, và chấn thương, vì thế là cái đến muộn. Công trình của Cathy Caruth đóng vai trò rất quan trọng trong bối cảnh vận động của phê bình chấn thương, đặc biệt nó có vai trò khơi nguồn của lí thuyết chấn thương hiện đại. Việc đọc chấn thương thông qua những văn bản triết học, văn chương, điện ảnh (chẳng hạn Caruth đọc lại Mose và Nhất thần luận của Freud, phân tích các dạng chấn thương trong Hiroshima mon amour của Duras và Resnais…) đã đưa lại những gợi ý sâu xa về các kinh nghiệm chấn thương, như nhận ra chấn thương cộng đồng tái diễn trong số phận cá nhân, nguy cơ tái diễn chấn thương từ những gì bị quên lãng dẫn đến những trải nghiệm muộn màng của chấn thương… Đặc biệt, mô hình về tính bất khả trình hiện của ngôn ngữ gây ra bởi chấn thương của Caruth vẫn là một tư tưởng cốt lõi trong ngành nghiên cứu chấn thương hai thập kỉ sau đó.
Michelle Balaev còn nhận thấy rằng tầm quan trọng trong mô hình lí thuyết của Cathy Caruth đó là một mặt tiếp tục duy trì cơ sở của mô hình truyền thống, mặt khác mở rộng khung lý thuyết tới các lí thuyết khác như nữ quyền luận, lí thuyết chủng tộc và hậu thuộc địa [7; 365]. Chặng thứ ba: đa dạng hóa, đa phương hóa lí thuyết chấn thương Lí thuyết chấn thương giai đoạn sau, một mặt tiếp nối mạch tư tưởng của giai đoạn trước nó, mặt khác, kiếm tìm nhiều hướng biểu đạt mới. Ở xu hướng nghiên cứu chấn thương tiếp theo, không ít người quay lại hồ nghi quan điểm của Cathy Caruth. Có người cho rằng lí thuyết của Caruth trong khi quá xoáy sâu vào tính bất khả trình diện của chấn thương đã quên đi nhiệm vụ lớn lao của văn chương nói riêng, của nghiên cứu nhân văn nói chung là làm nổi bật lên sự bạo tàn.
Nổi bật giữa những tiếng nói phản biện, nghi vấn của nghiên cứu chấn thương giai đoạn này là quan điểm của Ruth Leys trong công trình Chấn thương: Một phả hệ (Trauma: A Genealogy, 2000). Cách tiếp cận của Ruth Leys chối từ lối tiếp cận của khái niệm chấn thương thường được áp dụng trong văn học hiện đại. Bởi xuất phát từ điểm nhìn của một người lập bảng phả hệ, công trình bà mang tư tưởng của một tác phẩm của lịch sử trí tuệ, khác hẳn với công trình hậu cấu trúc về chấn thương, đặc biệt là những môn đệ của Freud. Bằng cách chú trọng vào việc phân tích Freud vốn dĩ là nền tảng tư tưởng trong những diễn giải của Caruth, Ruth Leys cho rằng Caruth đã đọc sai Freud, và chính cách đọc gượng ép đó đã dẫn đến những điểm mù trong việc xác lập nội hàm chấn thương.
Ruth Leys lấy thôi miên làm nền tảng cho lí thuyết chấn thương [11; 8- 9]. Cách tiếp cận của Ruth Leys, căn bản vẫn là cách tiếp cận phả hệ, trong đó các khái niệm và lí thuyết về chấn thương được nhìn thấy dưới ánh sáng của bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa thay vì xem nó như sự phát triển tuyến tính của một nền tảng tri thức đang vận hành, phát triển. Cũng như Ruth Leys, Dominick Lacapra đặt lịch sử là trục trung tâm của rất nhiều vấn đề đáng lưu tâm trong bối cảnh ngành nhân văn đương đại. Hầu hết các công trình của Dominick Lacapra (trong đó có Viết về lịch sử, viết về chấn thương (Writing History, Writing Trauma) và Lịch sử và những giới hạn của nó, con người, động vật, bạo lực (History and Its limits, Human, Animal, Violence) đều cho thấy sự quan tâm đặc biệt của ông đối với mối liên hệ giữa văn chương và lịch sử, đặt các văn bản phê bình trong những cuộc đối thoại với nhiều ngữ cảnh phức tạp.
Trong những thập kỉ gần đây, Lacapra quan tâm đến chấn thương và đại diện, đặc biệt là sự kiện của Holocaust. Ông tiếp cận với những sự kiện chấn thương thông qua các chứng ngôn và việc làm chứng của những người trải qua thảm họa diệt chủng. Tuy nhiên, từ những công trình của các nhà nghiên cứu khác như Michael Bernard - Donals và Richard Glejzer, Dominick Lacapra thấy rằng cái nhìn lịch sử, với những giới hạn của chính nó đã khước từ tầm quan trọng của tiếng nói của những người làm chứng. Trong khi đó, theo ông, đó là vấn đề sống còn đối với nạn nhân.
Bởi kinh nghiệm chấn thương, nhất là trong trường hợp của Holocaust thường gắn với những điều không thể biểu đạt, vượt lên cái bình thường, những chấn động vượt ngưỡng, nên nó thường được giới thiệu kèm theo cái trác tuyệt. Như vậy, công trình của Ruth Leys và Dominick Lacapra là những dẫn chứng điển hình cho nỗ lực của các nhà nghiên cứu hậu Caruthian trong việc kiếm tìm một mô hình mới cho lí thuyết chấn thương. Thực tế cho thấy rằng, hơn hai thập kỉ kể từ khi chuyên luận của Cathy Caruth được ấn hành, nghiên cứu chấn thương đã dần chuyển mình sang một bước ngoặt mới. Phê bình chấn thương càng ngày càng mở rộng phạm vi nghiên cứu, kết hợp, cộng hưởng với nhiều nhánh của lí thuyết đương đại.
Mô hình nghiên cứu chấn thương cũng dần thay đổi, chuyển từ mô hình cổ điển của Cathy Caruth sang mô hình lí thuyết đa nguyên (pluralism theory - Michelle Balaev). Trong bài viết Xu hướng trong lí thuyết chấn thương trong văn học (Trend in Literary Trauma Theory) đăng trên tập chí Mosaic: An Interdisciplinary Critical Journal vào năm 2008, Michelle Balaev đã gợi ý về mô hình đa nguyên lí thuyết khi nghiên cứu chấn thương. Trong khi xem xét những mô hình và kí ức chấn thương được biểu hiện trong tiểu thuyết, Michelle Balaev đã chú ý tới vai trò của địa điểm thể hiện trong việc neo giữ trải nghiệm cá nhân trong bối cảnh văn hóa rộng lớn. Bà cho rằng thông qua việc dựng nên bối cảnh thách thức những ngầm định về các mối quan hệ trong xã hội và quy tắc đạo đức, tiểu thuyết về chấn thương thể hiện rất rõ cách thức mà những sự kiện đau thương tác động vào người trong cuộc.
Lí thuyết về địa điểm của Michelle Balaev đã bước đầu cung cấp thêm một mô hình, một cách tiếp cận với văn học chấn thương, phá vỡ tính độc tôn của lí thuyết truyền thống. Quan điểm của Michelle Balaev được triển khai một cách đầy đủ và sâu sắc trong công trình Bản chất của chấn thương trong tiểu thuyết Hoa Kì (The nature of Trauma in American Novels, 2012). Công trình là kết quả nghiên cứu công phu dòng mạch văn học chấn thương từ nhiều điểm nhìn lí thuyết. Với mục đích mở rộng khả năng diễn giải của lí thuyết chấn thương trong văn chương, Michelle Balaev đã khẳng định tầm quan trọng của mô hình đa nguyên, trong đó, văn học chấn thương nên được tiếp cận diễn giải từ nhiều mô hình và phương pháp tiếp cận.
Trong những công trình sau này, chẳng hạn bài giới thiệu Nhìn lại lí thuyết chấn thương trong văn học (Literary Trauma theory reconsidered) in trong cuốn Các cách tiếp cận đương đại về lí thuyết chấn thương trong văn học (Contemporary Approaches in Literary Trauma Theory) do chính bà biên tập và chương viết về chấn thương (Chapter 29: Trauma) in trong Sổ tay lí thuyết chấn thương (A companion to Literary Theory, 2018), Michelle Balaev tiếp tục khẳng định vai trò của lí thuyết đa nguyên trong nghiên cứu văn học chấn thương. Các cách tiếp cận đa nguyên, theo bà, có nhiều khả năng thừa nhận cả bối cảnh sinh học thần kinh và bối cảnh xã hội của trải nghiệm chấn thương, cũng như các vị trí mà ở đó ý nghĩa khác nhau của chấn thương được truyền tải qua ngôn ngữ. Không loại trừ thực tế là các yếu tố xã hội, ngữ nghĩa, chính trị và kinh tế đều hiện diện trong trải nghiệm và hồi ức của chấn thương [14; 8]. Sự chuyển dịch ra khỏi trung tâm của mô hình cổ điển cũng đồng nghĩa với việc mở rộng tiềm năng diễn giải của lí thuyết chấn thương thông qua sự soi chiếu dưới ánh sáng của tâm lí học xã hội, nghiên cứu văn hóa, phân tâm học, hậu thuộc địa, nữ quyền, chủng tộc, hay thậm chí những động hướng mới hơn như các lí thuyết về cảm xúc.