CHƯƠNG 1: NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI VÀ NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY Năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong đời sống xã hội cũng như trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Đại hội VI và nghị quyết 05 của Đảng mở ra một không khí tự do dân chủ trong sáng tác văn học nghệ thuật. Văn học giai đoạn này phát triển mạnh mẽ đặc biệt là tiểu thuyết. Đây là một thể loại gặt hái được rất nhiều thành công trong việc đổi mới về nội dung và cách tân về mặt nghệ thuật.
Hồ Anh Thái là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến. Góp mặt vào văn đàn Việt Nam từ sau năm 1975, nhà văn nổi lên như một hiện tượng. Tác giả tham gia viết ở rất nhiều thể loại nhưng thành công nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết. Hầu hết các tiểu thuyết của nhà văn đều xuất hiện từ sau năm 1986 và tạo được dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc bởi nội dung tư tưởng của tác phẩm phản ánh được vấn đề của thời đại cùng với những bước đột phá trên con đường hoàn thiện về mặt hình thức.
Vài nét về nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay 1. Nguyên nhân đổi mới tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay Từ sau năm 1975, đất nước ta chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, chuyển từ cuộc sống với những bất trắc trong chiến tranh sang một cuộc sống tự do, người dân làm chủ đất nước và làm chủ chính mình.Trong vòng ba mươi năm của cuộc đấu tranh giành lấy độc lập ấy, hoà vào dòng chảy của văn học kháng chiến, tiểu thuyết để lại cho chúng ta những tác phẩm xuất sắc. Đấy là những tác phẩm đã dựng lên hình tượng và thế đứng của con người Việt Nam trong cuộc chiến. Chúng tôi có thể kể đến một vài tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong thể loại tiểu thuyết như Vũ Tú Nam (Nhân dân tiến lên), Nguyễn Đình Thi (Xung kích), Võ Huy Tâm (Vùng mỏ), Nguyễn Văn Bổng (Con trâu), ….
Không theo một quy phạm cứng nhắc nào, 22 nhưng các tiểu thuyết giai đoạn này dựng lên những mảng lớn của cuộc sống, những chiến trường ác liệt, những đám đông nhân vật luôn vận động và chuyển đổi. Hình tượng nhân vật trong các tác phẩm này là những con người anh dũng gắn liền những chiến công lừng lẫy cùng với vẻ đẹp tinh thần yêu nước đã mang đến một không khí sôi động, lạc quan cho tiểu thuyết thời kì kháng chiến. Tuy nhiên, nền văn học trong chiến tranh nói chung và tiểu thuyết nói riêng bao giờ cũng có những hạn chế nhất định. Hầu hết các tiểu thuyết thời kì 1945 – 1975 đều viết theo khuynh hướng sử thi.
Các nhà văn đều xây dựng tác phẩm của mình theo xu hướng ngợi ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Các tác giả chưa phản ánh được một cách toàn diện cái hiện thực phức tạp và khốc liệt của chiến tranh, chưa đi sâu vào những mâu thuẫn nhân dân, những vấn đề xã hội trong cuộc sống đời thường hằng ngày của con người. Cái mà văn học phản ánh là con người lịch sử, con người tập thể. Trong giai đoạn này, cái tôi cá nhân, những số phận cá nhân, hạnh phúc cá nhân hầu như bị lãng quên.
Sau năm 1975, lịch sử dân tộc Việt Nam đã bước sang trang mới. Với những thay đổi của cuộc sống thì truyện ngắn là thể loại nhạy bén trong vấn đề phản ánh hiện thực. Nhưng có thể gây chấn động, tạo nên cao trào trong văn học, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trên văn đàn thì phải kể đến tiểu thuyết. Tiểu thuyết từ lâu được xem là “máy cái” của văn học hiện đại vì nó có khả năng phản ánh lịch sử, hiện tại và cả tương lai trong cùng một tác phẩm.
Nếu đọc một truyện ngắn người đọc chỉ ở tư thế đi từ dốc đồi lên đến đỉnh đồi rồi dừng lại, phóng tầm mắt ra xa để quan sát cảnh quan bên ngoài. Nhưng đọc một cuốn tiểu thuyết, người đọc sẽ đi từ dưới chân đồi đi lên đến đỉnh đồi, rồi lại đổ dốc xuống chân đồi. Và như vậy, khi đến với tiểu thuyết, người đọc có khả năng bị lôi cuốn tham gia từ đầu đến cuối câu chuyện. Tiểu thuyết sau 1975 không cắt lìa với truyền thống nhưng nó lại làm mới, làm giàu về nội dung cũng như về nghệ thuật trên cái nền truyền thống đã có đó.
Sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam thật ra đã có mầm mống từ sau năm 1975. Tín hiệu đổi mới được dự báo trong các tiểu thuyết Miền cháy (1977), Lửa từ 23 những ngôi nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu, Cha và Con và … (1979) của Nguyễn Khải, Đất trắng (tập I – 1979) của Nguyễn Trọng Oánh, Năm 75 họ đã sống như thế (1979) của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc (1980) của Khuất Quang Thuỵ. Những tác phẩm này có ý thức khắc phục cái nhìn một chiều về hiện thực, đó là cái nhìn mà Nguyễn Minh Châu gọi là cái “lớp men trữ tình hơi dày” mà các nhà văn thường “tráng lên” hiện thực. Qua tiểu thuyết Đất trắng, Nguyễn Trọng Oánh chỉ ra đỉnh điểm của chiến tranh chính là lúc con người ta trở nên biến chất, dao động, niềm tin về chiến thắng của cách mạng bị sút giảm.
Qua tiểu thuyết Lửa từ những ngôi nhà, nhà văn Nguyễn Minh Châu dựng nên bi kịch của người lính khi trở về với cuộc sống thời bình. Họ sống quá lâu trong chiến tranh, quen với cuộc sống của những người nơi chiến trường để rồi khi trở về với cuộc sống thời hậu chiến họ trở nên lạc lõng, xa lạ với thực tại. Nguyễn Khải trong tiểu thuyết Cha và Con và … có sự “lưỡng lự” trước vấn đề nhìn nhận nhu cầu tôn giáo và tâm linh của con người. Trong bất kì thời đại nào của lịch sử, văn học bao giờ cũng là phương tiện, vũ khí đắc lực tác động đến tư duy của con người.
Và ngược lại, văn học cũng chịu sự chi phối của thời cuộc. Nguyên nhân dẫn đến đỉnh điểm đổi mới của văn học từ năm 1986 cũng phải kể đến ảnh hưởng của công cuộc đổi mới tư duy. Văn học song hành với cuộc đấu tranh dân chủ và công bằng xã hội. Những cuộc tranh luận và trao đổi về dân chủ, tự do giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa văn học và chính trị, giữa văn học và cuộc sống.
Từ đó những trường phái, những quan niệm nghệ thuật không sáng tác theo con đường chủ nghĩa hiện thực như chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, khoa học viễn tưởng, … được đón nhận với thái độ cởi mở và nồng nhiệt hơn. Đại hội các nhà văn Việt Nam lần thứ III (1983) diễn ra trong hoàn cảnh mới của đất nước. Ông Phạm Văn Đồng gửi đến Đại hội bức thư, trong đó có đoạn: “Là người chiến sĩ cách mạng, nhà văn phải đi sâu vào cuộc sống xã hội chủ nghĩa, tìm hiểu khám phá và sáng tạo với tầm nhìn khoáng đạt, thấy rõ ánh sáng, bóng tối, quá khứ và tương lai, Việt Nam và thế giới. Trong cuộc sống cũng như tác phẩm nhà văn không tránh khỏi bóng đen, có thể viết rất đậm về bóng 24 đen, nhưng chính là để làm nổi bật ánh sáng, viết về cái hư hỏng, cái lạc hậu chính là để làm nổi bật lên cái đúng, cái hay, cái đẹp” (1).
Từ năm 1983 tiểu thuyết mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực, cố giảm đi sức ảnh hưởng của tư duy sử thi, gia tăng chất đời tư và thế sự. Nhân vật được phản ánh trong mối quan hệ đa chiều của nó với hiện thực cuộc sống. Nguyễn Khải trong tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm có cuộc đối thoại của nhiều luồng tư tưởng, những quan điểm cách mạng được tôn vinh bị đặt dưới sự phán xét của người “bên kia chiến tuyến”. Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng (1985) chỉ ra cái lạc hậu, lỗi thời của cơ chế quan liêu bao cấp, dựng nên những bất ổn của con người và gia đình trong thời điểm chuyển giao giữa cái cũ và cái mới.
Đa phần các tiểu thuyết giai đoạn này nghiêng về phản ánh thế sự, đời tư như: giáo dục gia đình, bản lĩnh cá nhân, phản ứng của con người trước thời thế đổi thay …. Nhân vật bắt đầu sống trong kiểu nhân vật tiểu thuyết. Khi nói về nguyên nhân dẫn đến sự đổi mới trong văn học từ năm 1986 đến nay, phải kể đến nguyên nhân bắt nguồn từ lịch sử dân tộc. Trước năm 1975 nước ta có rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân, chính những cuộc khởi nghĩa này là tiền đề để đưa hai cuộc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Chúng ta cũng có rất nhiều cuộc cải cách xã hội to lớn (cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, …) nhưng chưa toàn diện, chưa triệt để và đôi khi để lại những vấn đề nghiêm trọng. Sau năm 1975, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong cả nước đặt ra hàng loạt vấn đề về xã hội. Những vấn đề này thật ra đã tồn đọng qua nhiều thời kỳ lịch sử dân tộc và đòi hỏi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa phải có trách nhiệm giải quyết. Đó là vấn đề về phụ nữ, hôn nhân và gia đình, về gia tộc và dòng họ, về số phận của cá nhân.
Hạnh phúc cá nhân được đặt trong mối quan hệ giữa con người cá nhân và cộng đồng, giữa cái truyền thống và cái hiện đại, giữa những bất đồng của các thế hệ trong một gia đình truyền thống. Văn học và đặc biệt là tiểu thuyết không thể không tham gia vào việc giải quyết các vấn đề xã hội này. Chính vì vậy đổi mới trong văn học nói chung và đổi mới trong tiểu thuyết nói riêng (1) Trích theo Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 – 2000, NXB Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, tr.21 25 là vấn đề tất yếu phải xảy ra.
Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI đã đáp ứng những đòi hỏi, bức xúc của văn chương, nghệ thuật. Đại hội yêu cầu các nhà văn, nghệ sĩ phải không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ sáng tạo của mình. Người nghệ sĩ phải có ý thức trong việc bồi dưỡng tài năng của mình để từ đó tạo ra những tác phẩm có giá trị.