Mở đầu cho sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên là tập Điêu tàn (1937). Với 37 bài thơ, ngƣời thi sĩ 17 tuổi đã khiến dƣ luận đặc biệt chú ý bởi một tâm hồn nghệ sĩ thiên phú, bởi nỗi cô đơn đầy ám ảnh và bế tắc trong thơ và đặc biệt là thế giới nghệ thuật bí ẩn với bóng tối, yêu ma làm rợn ngợp và hoang mang ngƣời đọc. Điêu tàn là âm thanh của chết chóc, khóc than. Những tháp Chàm bí mật, câm nín mấy trăm năm chợt nấc lên uất nghẹn.
Điêu tàn là bi kịch của đất nƣớc Chiêm Thành đã bị vùi sâu vào quá khứ. Nhƣng Điêu tàn còn là bi kịch tình thần của một nhà thơ, của một thế hệ các 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà thơ, gửi gắm trong đó bi kịch mất mát đau thƣơng của dân tộc. Tiếng thơ ấy vì thế đã khiến biết bao ngƣời đã phải lắng tai nghe. Cùng những biến thiên vĩ đại của lịch sử dân tộc sau Cách mạng tháng Tám, vƣợt qua “thung lũng đau thƣơng”, thơ Chế Lan Viên bắt đầu một hành trình mới.
Gửi các anh gồm 14 bài thơ, in năm 1955, ra đời sau 10 năm nhà thơ Chế Lan Viên gắn bó với Cách mạng. Mặc dù còn nhiều hạn chế song tập thơ này có ý nghĩa nhƣ một sự nhận đƣờng. Đó là những xót xa đau đớn của nhà thơ khi nghĩ về mẹ đang bị cầm chân nơi đất giặc, “Bốn phía là gƣơm bốn bề là sắt”, nghĩ về nhân dân trong cảnh “Ngút trời đồng bốc lửa”. Đó là những xúc động mãnh liệt trƣớc những hi sinh cao đẹp của ngƣời chiến sỹ nơi “Bốn bề núi dựng/ Núi hiên ngang bốn bề vách đứng/ Canh mồ cho anh”.
Đó là ngọn lửa căm thù bùng cháy khi nhà thơ ghi khắc nỗi đau lớn của quê hƣơng để “Nhớ lấy để trả thù”. Có thể nói, sống chân thành, sâu sắc với hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp của dân tộc, Chế Lan Viên đã đƣa thơ ông thoát khỏi dĩ vãng buồn thƣơng để trở về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin yêu. “Khi đã có hƣớng rồi”, Chế Lan Viên nhanh chóng khẳng định mình nhƣ một thi sĩ tiên phong. Năm 1960, mừng Đảng ta 30 tuổi, Chế Lan Viên xuất bản tập Ánh sáng và phù sa với 69 bài.
Sự thật của cuộc sống và chiến đấu lớn của nhân dân đã in bóng trong từng trang thơ của Chế Lan Viên sống động, chân thực. Tập thơ phản ánh, ngợi ca cuộc sống mới đang đổi thay trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, góp thêm tiếng nói đấu tranh cùng miền Nam trong lửa đạn. Tiếng nói vƣợt lên “nỗi đau” cũ để tiếp nhận “niềm vui” mới đƣợc cái tôi trữ tình Chế Lan Viên thể hiện sâu sắc, có chiều sâu của một cái tôi giàu suy tƣ, chiêm nghiệm. Chế Lan Viên đã trở thành ngƣời thi sĩ ca hát vẻ đẹp muôn màu sắc của thời đại 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới, say sƣa, mê mải lƣợn trăm vòng trên tổ quốc thân yêu để thu nhận “Ngàn núi trăm sông diễm lệ” vào hồn thơ đang căng tràn sức sống của mình.
Nối tiếp Ánh sáng và phù sa, những tập thơ Hoa ngày thƣờng, chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc và Đối thoại mới lần lƣợt đƣợc ra đời trong những năm kháng chiến chống Mỹ hào hùng và quyết liệt. Hoa ngày thƣờng, chim báo bão xuất bản năm 1967, gồm 49 bài thơ. Chùm thơ Hoa ngày thƣờng giản dị, gần gũi và giàu chất sống. Với những Bé Thắm đàn, Nhớ em nơi huyện nhỏ, Con đi sơ tán xa…ngƣời đọc gặp một Chế Lan Viên cởi mở với những đề tài riêng tƣ mà đời thƣờng, mộc mạc.
Những lời ru tha thiết nhƣ Con cò, giọng điệu bi bô khi Con tập nói…là cuộc sống, là chất sống ngời lên vƣợt qua sự hủy diệt khốc liệt của chiến tranh. Tập thơ không dừng ở đó, bên cạnh Hoa ngày thƣờng là cánh Chim báo bão. Thơ Chế Lan Viên đã tiến sát hơn tới những tuyến đầu của cuộc chiến đấu của dân tộc và thời đại. Trong tập thơ có nhiều bài thơ chống Mỹ rất trữ tình mà cũng rất quyết liệt nhƣ: Cái hầm chông giản dị, Ở đâu? Ở đâu? Ở đất anh hùng, Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa… Xuất bản năm 1972, giữa những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Những bài thơ đánh giặc thực sự đã tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh của dân tộc.
Phác thảo cho một trận đánh, một bài thơ diệt Mỹ đã vừa vạch trần âm mƣu thâm độc của đế quốc Mỹ vừa phản ánh chân thực khí thế hào hùng của quân và dân ta trong quá trình chuẩn bị chiến dịch Khe Sanh – Đƣờng Chín – Nam Lào. Với “Phản diễn ca” hay “phản diện ca” về học thuyết Nichxơn, Chế Lan Viên đã kiên quyết phản bác lại những luận điệu sảo trả của Nichxơn trong những cuộc viễn du thƣơng lƣợng của chúng. Thời sự hè 72 – Bình luận đƣợc Chế Lan Viên viết khi cả nƣớc đang sôi sục căm thù vì những vụ ném bom B.52 xuống Hải Phòng của đế quốc Mỹ. Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên không chỉ bám sát 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những sự kiện nóng hổi mang tính thời đại mà còn có những lời giải thấu đáo trƣớc những vấn đề bức thiết trong đời sống chính trị, báo trƣớc viễn cảnh phát triển của tình hình, làm tăng thêm lòng tin tƣởng vào thắng lợi của nhân dân.
Tiếp nối những âm vang nung đốt trong Những bài thơ đánh giặc, cuối năm 1973 Chế Lan Viên xuất bản tập thơ Đối thoại mới. 68 bài thơ trong tập thơ này cho thấy một sức viết dồi dào và sự thúc bách của thời đại. Bên cạnh mảng thơ chống Mỹ gồm những bài thơ dài, có dung lƣợng lớn và chiếm vị trí quan trọng, trong tập thơ còn xen lẫn những bài thơ ngắn và những chùm tứ tuyệt dịu nhẹ, êm đềm. Cả tập thơ vì thế có đƣợc sự cân bằng thời sự và cuộc sống, giữa trí và tình.
Tự nguyện đem thơ phục vụ lợi ích cách mạng, Chế Lan Viên vì thế cũng đã dứt khoát lựa chọn sứ mệnh mới cho thơ: “Thơ cần có ích cho cuộc đời, cho nhân dân”. Với quan niệm ấy, thơ Chế Lan Viên đã đi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc và thực sự trở thành con đẻ của thời đại, của Tổ quốc, của Nhân dân. Cũng nhƣ bao nhà thơ khác, Chế Lan Viên đã viết về Bác Hồ với niềm cảm hứng mãnh liệt. Hoa trƣớc lăng ngƣời (1976) với 14 bài thơ làm rải rác trong khoảng hai mƣơi năm là tấm lòng của nhà thơ đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.
Bằng tất cả sự kính trọng, yêu thƣơng, biết ơn vô hạn, thơ Chế Lan Viên đã đem đến cho ngƣời đọc một bức chân dung bằng thơ giản dị, thanh cao, thiêng liêng, vĩ đại về Ngƣời. Sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên kết tinh trong những tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986). Khép lại một giai đoạn thơ kháng chiến, Ngày chiến thắng và Thơ bổ sung trong tập Hái theo mùa đƣợc Chế Lan Viên viết trong những ngày náo nức của tháng 5 năm 1975, có ý nghĩa nhƣ khúc ca khải hoàn trong ngày đất 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nƣớc trọn niềm vui. Bên cạnh đó Hái theo mùa còn là những xúc cảm đời thƣờng với hơn 40 bài tứ tuyệt giàu sức gợi.
15 bài thơ trong tập Hoa trên đá là một chất thơ mới của nhà thơ đang tìm hƣớng đi mới cho thơ, đang muốn vƣợt lên chính mình để làm mới thơ. Qua giông bão chiến tranh, sau những bài thơ hùng tráng, giờ đây hồn thơ Chế Lan Viên chín lại một lần nữa trong những khúc trữ tình không còn trẻ trung nhƣng sâu lắng, tha thiết, thấm tận đáy lòng. Ở các tập thơ Hoa trƣớc lăng Ngƣời, Hái theo mùa và một phần Hoa trên đá, Ta gửi cho mình, thơ Chế Lan Viên vẫn là tiếng kèn xung trận, tiếng hát cất cao ngợi ca, cổ vũ nhân dân. Nhƣng càng về sau đặc biệt trong ba tập Di cảo (xuất hiện sau khi Chế Lan Viên qua đời) thơ Chế Lan Viên lắng lại, đằm sâu trong suy tƣởng, thơ lặn vào trong, viết cho riêng mình.
Di cảo thơ của Chế Lan Viên do nhà văn Vũ Thị Thƣờng – ngƣời bạn đời của ông, tuyển chọn và giới thiệu tới bạn đọc. Ba tập Di cảo thơ với 567 bài thơ (bao gồm cả những bài thơ hoàn chỉnh và những bài còn ở dạng phác thảo) là những dằn vặt, mâu thuẫn trong nội tâm Chế Lan Viên, là sự “sám hối”, “phản tỉnh” xuất hiện đâu đó, là những xao xác đến nao lòng từ bề ngoài an nhiên bình đạm…Chỉ với 3 tập thơ mà “Nghìn trò cƣời khóc”. Ngƣời đọc thấy một Chế Lan Viên vừa quen vừa lạ, tƣởng đã hiểu ông và thơ ông đến ngọn ngành, lại tƣởng chừng nhƣ chƣa hiểu. Di cảo thơ chính là ba mặt còn lại của“Tháp Bayon bốn mặt” trong những suy tƣởng về thơ và đời của Chế Lan Viên.
Đi qua các chặng đƣờng thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy: thơ Chế Lan Viên có một diện mạo phong phú và phức tạp. Ông là nhà thơ bản lĩnh, tha thiết với thời đại, mê mải tìm tòi và hầu nhƣ không bao giờ bằng lòng với những gì đã đạt đƣợc. Ngƣời đọc tìm thấy trong thơ Chế Lan Viên tiếng nói của một cái tôi trữ tình đa giọng điệu. Khi đau đớn bi ai, khi hào 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hùng quyết liệt, khi thủ thỉ tâm tình, lúc ngọt ngào tha thiết…Đó là tiếng nói của một hồn thơ luôn tìm đƣờng mở lối cho thi ca hiện đại, một hồn thơ luôn muốn lật xoay đời sống, xã hội và cả tâm hồn mình để khám phá đến tận cùng mọi chiều kích.
Tất cả những điều ấy làm nên phẩm chất tiểu biểu của thơ Chế Lan Viên: phẩm chất triết học. Tƣ duy triết học tạo cho thơ Chế Lan Viên một màu sắc trí tuệ, một màu sắc nhận thức luận sắc nét. Thơ Chế Lan Viên chú trọng khai thác những yếu tố nghịch lý, những mặt đối lập rồi liên kết chúng lại bằng một khả năng liên tƣởng đa dạng và linh hoạt. Trí tuệ nhƣng không khô khan, trí tuệ nhƣng vẫn rất đỗi trữ tình.
Mạch nguồn sống của thi ca nói chung là sự xúc động chân thành của cảm xúc. Và thơ Chế Lan Viên cũng không nằm ngoài mạch nguồn chung ấy. Đọc thơ của Chế Lan Viên, ngƣời đọc cảm nhận sâu sắc về một nhà thơ với ý thức trách nhiệm lớn lao.