Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng với đề tài "Nghệ thuật phối hợp lực lượng vũ trang trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954" do sinh viên thực hiện dưới sự hướng dẫn của Trung tá Nguyễn Văn Q. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam, đặc biệt là thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 – mốc son chấm dứt hoàn toàn ách thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam và Đông Dương, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và mở đường cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước. Theo tác giả, chiến thắng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nghệ thuật tổ chức, sử dụng và phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang (LLVT) giữ vai trò then chốt. Dù hơn sáu mươi năm đã trôi qua, các bài học về hiệp đồng binh chủng và phối hợp giữa các lực lượng vẫn còn nguyên giá trị khoa học quân sự trong công cuộc củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và ý nghĩa của nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
  2. Từ kết quả nghiên cứu về những nét đặc sắc trong nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch, đề xuất phương hướng vận dụng nhằm góp phần xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh trong giai đoạn cách mạng mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm hai trọng tâm:

  1. Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch quân sự.
  2. Làm rõ diễn biến chính, nội dung, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm về nghệ thuật phối hợp LLVT trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954; từ đó xác định các nội dung vận dụng vào việc xây dựng quy chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND) và Dân quân tự vệ (DQTV) hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật phối hợp giữa các thành phần LLVT nhân dân (bộ binh, pháo binh, cao xạ, công binh, công an và dân quân du kích).
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian diễn ra tại chiến trường Điện Biên Phủ và các địa bàn tiếp vận, phối hợp liên quan; thời gian tập trung vào cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953–1954 và 55 ngày đêm của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, có liên hệ với thực tiễn xây dựng lực lượng thời bình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý quân sự, nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối tác chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam:

  • Khái niệm nền tảng: Xác định LLVT nhân dân gồm ba thành phần cốt lõi: QĐND (lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và lực lượng dự bị động viên), CAND (lực lượng an ninh và cảnh sát) và DQTV (lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất). Khái niệm "phối hợp" được định nghĩa theo lý luận tác chiến là việc bố trí, phân công các lực lượng cùng hoạt động theo một kế hoạch chung thống nhất để thực hiện mục đích chiến lược, chiến dịch đề ra.
  • Khung lý luận kinh điển: Luận điểm của Ph.Ăngghen về sức mạnh tổng hợp, vượt thoát khỏi tư duy quân sự lấy lớn thắng nhỏ truyền thống; học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin về sự phối hợp giữa lực lượng chính trị quần chúng và quân đội thường trực dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích, phối hợp tiền tuyến với hậu phương, đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí.
  • Quan điểm của Đảng: Đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh; phát huy sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân, kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị, ngoại giao. Văn bản quản lý nhà nước áp dụng trong phần liên hệ thực tiễn là Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai kết hợp:

  • Phương pháp luận mác-xít và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận, nghiên cứu tài liệu lưu trữ lịch sử quân sự.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp để hệ thống hóa diễn biến, các đợt tác chiến và số liệu lực lượng.
  • Phương pháp chuyên gia nhằm đúc rút bài học kinh nghiệm và kiến nghị quy chế phối hợp trong tình hình mới.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu lịch sử từ các văn kiện quân sự, tài liệu tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ, lịch sử các đại đoàn chủ lực (304, 308, 312, 316, 351) và tài liệu tổng kết hoạt động bảo vệ của lực lượng Công an nhân dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn nghệ thuật phối hợp lực lượng vũ trang trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954

Chương 1 tập trung giải trình cơ sở lý luận cách mạng và tổng kết dòng chảy lịch sử quân sự Việt Nam về nghệ thuật phối hợp lực lượng:

  • Cơ sở lý luận: Làm rõ bản chất của LLVT nhân dân Việt Nam, vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội và công an; phân tích các luận điểm của Lênin về phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần, thiết chế chính ủy và sự kết hợp giữa các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao. Hệ thống hóa chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phát động thế trận toàn dân đánh giặc, kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
  • Thực tiễn lịch sử quân sự dân tộc thời phong kiến: Tác giả điểm lại bốn giai đoạn tiêu biểu:
    1. Kháng chiến chống Tống (1075–1076): Lý Thường Kiệt chủ trương "Tiên phát chế nhân", hiệp đồng thủy bộ tiến công Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu, sau đó rút về bố phòng chiến tuyến sông Như Nguyệt, kết hợp quân chủ lực với quân địa phương chặn đánh phía trước và thọc sâu phía sau.
    2. Kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII: Nhà Trần áp dụng nguyên tắc "Dĩ đoản chế trường", phối hợp chặt chẽ giữa chính binh và kỳ binh của các tướng lĩnh Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật; kết hợp chặn đánh trên bộ với tập kích đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ trên biển.
    3. Khởi nghĩa Lam Sơn (thế kỷ XV): Lê Lợi và Nguyễn Trãi xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp nghĩa quân với quần chúng nổi dậy, thực hiện chiến thuật "vây thành diệt viện", phối hợp pháo binh đắp lũy với đào địa đạo hạ thành Xương Giang.
    4. Kháng chiến chống Mãn Thanh (1788–1789): Nguyễn Huệ chủ động rút quân về tuyến Tam Điệp - Biện Sơn bảo toàn lực lượng, sau đó chia 5 đạo quân tổ chức hành quân thần tốc, phối hợp bộ binh, kỵ binh, tượng binh và pháo binh tiêu diệt cứ điểm then chốt Ngọc Hồi - Đống Đa.
  • Thực tiễn tác chiến từ khi có Đảng lãnh đạo: Phân tích nghệ thuật phối hợp qua 4 dấu mốc: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 (thực hiện 3 nguyên tắc chỉ đạo: tập trung mục tiêu chính, thống nhất chỉ huy và hành động đồng loạt; kết hợp lực lượng chính trị với vũ trang ở 36 tỉnh từ cơ sở lên tỉnh lỵ, 15 tỉnh từ tỉnh lỵ về huyện và 11 tỉnh khởi nghĩa trong một ngày); Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 (kết hợp các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung với dân quân du kích thực hiện "tiêu thổ kháng chiến", pháo binh Sông Lô diệt tàu chiến địch); Chiến dịch Hạ Lào năm 1953 (phối hợp liên quân Việt - Lào phân tán khối cơ động chiến lược của tướng Nava); Chiến dịch Hòa Bình (nghệ thuật mở đồng thời hai mặt trận: mặt trận chính diện tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ - Núi Chẹ và mặt trận sau lưng địch tại Phát Diệm, Nam Định, Ninh Bình).

Chương 2: Nghệ thuật phối hợp lực lượng vũ trang trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954

Chương 2 trình bày chi tiết về tương quan lực lượng, tổ chức biên chế và các hình thức phối hợp tác chiến thực tế tại chiến trường Điện Biên Phủ:

Tương quan so sánh lực lượng và bố phòng: Thung lũng lòng chảo Điện Biên Phủ dài 18km, rộng 8km. Quân Pháp thiết lập tập đoàn cứ điểm gồm 3 phân khu với 49 cứ điểm, tổ chức thành các cụm đề kháng phức tạp. Phía ta hoàn toàn không có không quân, không có xe tăng, số lượng đạn pháo hạn chế, đối đầu với hệ thống phòng ngự kiên cố chìm dưới mặt đất của địch.

Tiêu chí Lực lượng viễn chinh Pháp Quân đội nhân dân Việt Nam
Binh lực bộ binh 17 tiểu đoàn (ban đầu 6, tăng lên 12, sau đó bổ sung 4 tiểu đoàn và 2 đại đội dù) 11 trung đoàn bộ binh (thuộc 4 đại đoàn: 304, 308, 312, 316)
Tổng quân số 16.200 quân Tỷ lệ quân số so với địch là 3,3 / 1 (tính chung toàn mặt trận)
Pháo binh, cối 3 tiểu đoàn pháo binh; tỷ lệ súng pháo địch/ta là 3,1 / 1 1 trung đoàn 105mm (24 khẩu), 1 trung đoàn 75mm (24 khẩu), 16 cối 120mm; Đợt 1 dùng 234 khẩu
Phòng không Hỏa lực phòng không tích hợp tại các phân khu 1 trung đoàn cao xạ 37mm (Trung đoàn 367: 24 khẩu, sau tăng 1 tiểu đoàn 12 khẩu)
Cơ giới, xe tăng 1 đại đội xe vận tải (~200 xe), có xe tăng yểm trợ 0 xe tăng
Không quân 1 phi đội thường trực 14 máy bay tại chỗ, cùng không quân chi viện từ Hà Nội 0 máy bay

Tổ chức, phân công nhiệm vụ các đại đoàn chủ lực:

  • Đại đoàn 304 (Trung đoàn 9, Trung đoàn 57): Nhiệm vụ bao vây phân khu Hồng Cúm, chặn viện giữa Hồng Cúm và Mường Thanh, khống chế trận địa pháo và sân bay, đánh phản kích, diệt quân nhảy dù. Lúc 17 giờ ngày 13/3/1954, pháo binh đại đoàn tiêu diệt hơn 200 tên địch, thu 600 viên đạn 105mm, hơn 3.000 viên đạn cối; chốt chặn tại Na Tu ngăn địch rút chạy sang Lào.
  • Đại đoàn 308 (Trung đoàn 36, 88, 102): Tiêu diệt cứ điểm Đồi Độc Lập, bức hàng Đồi Bản Kéo, tham chiến đồi A1; đào giao thông hào cắt ngang sân bay; công kích các cứ điểm 206, 310, 311A, 311B. Trung đoàn 36 thực hành vây lấn bắn tỉa diệt cứ điểm 206 trong 6 ngày đêm (17–23/4/1954).
  • Đại đoàn 312 (Trung đoàn 141, 165, 209): Đánh trận mở màn tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam; đào hào cắt đôi sân bay Mường Thanh; tiến công cứ điểm 105, 203, 204, 506, 507; thọc sâu cắm cờ Quyết chiến Quyết thắng trên nóc hầm De Castries chiều ngày 7/5/1954.
  • Đại đoàn 316 (Trung đoàn 98, 174, 176): Tác chiến tại cánh cửa thép phía Đông, tiến công các cứ điểm then chốt A1, C1, C2, xây dựng trận địa công kích cứ điểm 302, 304, đồi Châu Ún.
  • Đại đoàn công pháo 351: Gồm Trung đoàn pháo binh 45 (lựu pháo 105mm), Trung đoàn 675 (sơn pháo 75mm), Trung đoàn 237 (súng cối 120mm, ĐKZ 75mm, hỏa tiễn H6), Trung đoàn cao xạ 367 (pháo 37mm) và Trung đoàn công binh 151. Bố trí trận địa vòng cung hơn 30km bắn phá sở chỉ huy, sân bay và khống chế không vực.

Nội dung và hình thức phối hợp tác chiến:

  • Phối hợp binh chủng (Bộ binh - Pháo binh - Phòng không): Pháo binh đi cùng chế áp hỏa lực cứ điểm; phòng không bố trí sát đội hình bộ binh khống chế máy bay vận tải thả dù và máy bay ném bom, buộc địch phải bay cao, thả dù rơi ra ngoài hàng rào tiếp tế; sáng tạo cách bắn theo tiếng động cơ khi trận địa bị phủ khói.
  • Phối hợp giữa các đơn vị bộ binh: Hiệp đồng đào hệ thống giao thông hào chằng chịt bao vây khu trung tâm, đào hào cắt đôi đường băng sân bay Mường Thanh; kết hợp tiến công chính diện với luồn sâu, bắn tỉa tiêu hao quân địch đi lấy nước (nhắm vào chân để thu hút lực lượng cứu hộ rồi dùng cối 60mm và đại liên tiêu diệt).
  • Phối hợp giữa CAND và QĐND: Bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ và Sở chỉ huy chiến dịch; thực hiện phong trào "Phòng gian, bảo mật" với khẩu hiệu "Ba không"; bảo đảm hậu cần vận tải; đấu tranh bóc gỡ các mạng lưới gián điệp, biệt kích Pháp - Tưởng cài cắm dọc các tuyến hành lang giao thông.
  • Phối hợp giữa DQTV và QĐND: Xây dựng làng xã chiến đấu, phá tề, trừ gian, đánh phá giao thông, giam chân địch tại đồng bằng và trung du, bảo vệ vững chắc hậu phương và vùng tự do.

Vận dụng trong giai đoạn hiện nay: Tác giả đề xuất xây dựng quy chế phối hợp giữa ba lực lượng QĐND, CAND và DQTV trên cơ sở thể chế hóa Quyết định 107 của Thủ tướng Chính phủ, tập trung vào 6 nhóm nhiệm vụ đối với QĐND - CAND (giáo dục quốc phòng - an ninh; tham mưu giữ vững ổn định các địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; trao đổi thông tin dự báo chiến lược; phối hợp phòng chống tội phạm, khủng bố, buôn lậu; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy tinh nhuệ; đầu tư công nghiệp quốc phòng - an ninh) và các nội dung phối hợp giữa DQTV với Công an và Quân đội tại cơ sở.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng hợp các số liệu lịch sử cụ thể chứng minh hiệu quả của nghệ thuật phối hợp tác chiến và phục vụ tác chiến:

Lực lượng phối hợp Nội dung và quy mô huy động Kết quả đạt được theo văn bản
QĐND (Các đại đoàn) 55 ngày đêm tiến hành 3 đợt tiến công công kiên quy mô lớn Đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm gồm 49 cứ điểm; tiêu diệt và bắt sống 16.200 quân địch (trong đó có tướng De Castries và toàn bộ ban tham mưu); bắn rơi 62 máy bay; thu 64 xe ô tô và toàn bộ vũ khí
CAND phối hợp QĐND Bảo đảm an ninh tuyến vận tải hàng nghìn km từ Thanh - Nghệ - Tĩnh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng lên Tây Bắc Bảo vệ an toàn hơn 260.000 dân công, 628 xe ô tô, 20.991 xe đạp thồ, 11.800 mảng nứa, hơn 800 ngựa thồ; vận chuyển an toàn hơn 2 vạn tấn lương thực
Công an đấu tranh tiễu phỉ Phối hợp quân đội mở các đợt truy quét bảo vệ hậu phương Tây Bắc Đánh tan 7 cụm phỉ, dập tắt hàng chục vụ bạo loạn; tiêu diệt, bắt sống và buộc ra hàng 4.696 tên phỉ, thu hàng nghìn súng; vận động 1.600 người theo phỉ trở về
DQTV phối hợp quân sự Lập làng xã chiến đấu, chia cắt giam chân khối cơ động Pháp Toàn cuộc kháng chiến chống Pháp, dân quân và bộ đội địa phương đã tiêu diệt 23,1 vạn / 50 vạn quân địch, làm tan rã hơn 20 vạn tên, giam chân trên 90% lực lượng địch, buộc tướng Nava chỉ giữ được 10% lực lượng cơ động

Các giải pháp và kiến nghị vận dụng do tác giả đề xuất:

  • Cụ thể hóa Quy chế phối hợp theo Quyết định 107 của Thủ tướng Chính phủ xuống cấp cơ sở xã, phường, thị trấn giữa lực lượng Quân sự và Công an.
  • Xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn liền với thế trận quốc phòng toàn dân tại các địa bàn chiến lược: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, khu vực biên giới, biển đảo.
  • Phối hợp diễn tập phương án chống khủng bố, giải thoát con tin, gây rối an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, cứu hộ cứu nạn và phòng thủ dân sự.
  • Phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc kết hợp công tác dân vận, chính sách dân tộc, tôn giáo nhằm triệt tiêu mầm mống gây rối từ sớm, từ xa.

Đóng góp tự nêu của khóa luận: Hệ thống hóa một cách toàn diện từ cơ sở lý luận kinh điển đến tiến trình thực tiễn của nghệ thuật phối hợp LLVT trong lịch sử dân tộc và chiến dịch Điện Biên Phủ; làm rõ cơ chế phối hợp không chỉ bó hẹp ở góc độ kỹ thuật tác chiến quân sự giữa các binh chủng mà mở rộng ra sự hiệp đồng chiến lược giữa Quân đội, Công an và Dân quân tự vệ, từ đó cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác xây dựng lực lượng trong giai đoạn hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên nội dung và phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tài liệu tổng kết chiến dịch năm 1954 và một số tư liệu lịch sử chiến tranh giải phóng, chưa đi sâu khai thác các nguồn tài liệu lưu trữ từ phía đối phương (quân đội viễn chinh Pháp) để đối chiếu, so sánh đa chiều về hiệu ứng chiến thuật.
  • Phần nghiên cứu vận dụng trong tình hình mới chủ yếu dừng lại ở các định hướng nguyên tắc, khung quy chế chung theo văn bản chỉ đạo (Quyết định 107), chưa đi sâu phân tích cơ chế phối hợp tác chiến điện tử, bảo đảm an ninh mạng hay tác chiến không gian số trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.
  • Hướng mở tiếp theo của đề tài là tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về quy trình hiệp đồng tác chiến phòng thủ quân khu, phòng thủ khu vực ven biển và ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ huy phối hợp giữa ba lực lượng QĐND, CAND và DQTV.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, giảng viên chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Lịch sử Quân sự và Khoa học Xã hội Nhân văn nghiên cứu về nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam.
  • Học viên các trường sĩ quan Quân đội, học viện Công an nhân dân nghiên cứu về công tác tham mưu tác chiến hiệp đồng quân binh chủng và cơ chế phối hợp liên ngành bảo vệ an ninh trật tự.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với hệ thống số liệu biên chế cụ thể của từng đại đoàn (304, 308, 312, 316, 351), chi tiết chiến thuật vây lấn bắn tỉa tại cứ điểm 206 của Trung đoàn 36 và tư liệu về hoạt động bảo vệ hậu phương, tiễu phỉ của lực lượng Công an nhân dân trong chiến dịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn bộ binh 304 đảm nhiệm khu vực nào và đạt kết quả tác chiến mở màn ra sao?
Đại đoàn 304 đảm nhiệm nhiệm vụ bao vây phân khu Hồng Cúm, chặn viện giữa Hồng Cúm và Mường Thanh, khống chế sân bay và trận địa pháo của địch. Trong trận mở màn lúc 17 giờ ngày 13/3/1954, pháo binh của Đại đoàn đã bắn trúng sở chỉ huy và trận địa pháo địch, tiêu diệt hơn 200 tên, thu 600 viên đạn 105mm, hơn 3.000 viên đạn cối cùng nhiều lương thực, thuốc men.

2. Chiến thuật vây lấn, bắn tỉa tiêu diệt cứ điểm 206 của Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) diễn ra như thế nào?
Từ ngày 17 đến ngày 23/4/1954 (6 ngày đêm), Trung đoàn 36 đã thực hành đào giao thông hào áp sát, bắn tỉa tiêu hao sinh lực địch đi lấy nước (chủ tâm bắn vào chân để thu hút lực lượng cứu hộ rồi dùng cối 60mm và đại liên tiêu diệt), đánh địch ra phá trận địa, vây hãm làm binh lính địch suy sụp; từ đó tiêu diệt toàn bộ cứ điểm bằng một lực lượng tương đương quân số địch.

3. Lực lượng Công an nhân dân đã đạt kết quả gì trong công tác tiễu phỉ bảo vệ tuyến hành lang chiến dịch?
Trước và trong chiến dịch, lực lượng Công an đã phối hợp với quân đội truy quét, làm tan rã 7 cụm phỉ, dập tắt hàng chục vụ bạo loạn, tiêu diệt, bắt sống và buộc ra hàng 4.696 tên phỉ, thu hàng nghìn khẩu súng và phương tiện liên lạc, đồng thời vận động 1.600 người bị ép theo phỉ trở về với cách mạng.

4. Quy mô huy động dân công và phương tiện vận tải phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ theo ghi nhận của khóa luận là bao nhiêu?
Chiến dịch đã huy động hơn 260.000 dân công, 628 xe ô tô, 20.991 xe đạp thồ, 11.800 mảng nứa, hơn 800 ngựa thồ cùng hàng chục nghìn phương tiện thô sơ, vận chuyển an toàn hơn 2 vạn tấn lương thực trên quãng đường hàng nghìn km ra mặt trận.

5. Trong phần vận dụng hiện nay, mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng được quy định dựa trên văn bản pháp lý nào?
Quan hệ phối hợp giữa lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được thực hiện dựa trên Quy chế phối hợp hoạt động theo Quyết định số 107 của Thủ tướng Chính phủ.

Kết luận

Khóa luận của tác giả đã làm rõ một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và truyền thống đánh giặc của dân tộc về nghệ thuật phối hợp lực lượng vũ trang. Thông qua việc phân tích diễn biến và các số liệu lịch sử tại chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, công trình chứng minh sức mạnh tổng hợp được tạo thành từ sự kết hợp chặt chẽ giữa các quân binh chủng quân đội, lực lượng công an và dân quân tự vệ. Các đề xuất vận dụng xây dựng quy chế phối hợp liên ngành theo Quyết định 107 là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong tình hình mới.