Tổng quan luận án

Đề tài "Nghệ thuật chạm khắc hoa văn trên đồ thờ đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ" được nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Giáp thực hiện tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Văn Doanh. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, mã số đào tạo 9210101, hoàn thành và bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bắc Bộ là trung tâm mỹ thuật và văn hóa truyền thống của Việt Nam, nơi lưu giữ hệ thống di tích cổ kính như đình, chùa, đền, miếu và lăng mộ. Trong đó, hệ thống lăng mộ của tầng lớp quan lại phong kiến thế kỷ XVII - XVIII (chủ yếu là lăng Quận công) lưu giữ khối lượng hiện vật đồ thờ bằng đá phong phú. Đồ thờ đá và hoa văn trang trí (ornament) đóng vai trò là công cụ trung gian chuyển tải tâm linh giữa con người với thế giới siêu nhiên, đồng thời tích hợp các tư tưởng triết học, tôn giáo (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) và thẩm mỹ dân gian. Mặc dù đồ thờ đá có độ bền vững cao và chứa đựng nhiều tầng nghĩa biểu tượng, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận lăng mộ dưới góc độ khảo cổ học hoặc điêu khắc tượng tròn (người và thú), chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về đồ thờ đá và nghệ thuật chạm khắc hoa văn trang trí trên đồ thờ dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là nghiên cứu các yếu tố tạo hình biểu hiện trên hoa văn chạm khắc của đồ thờ đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ thông qua các mẫu vật tại các lăng mộ tiêu biểu; qua đó khẳng định những giá trị nghệ thuật tạo hình của di sản này.

Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:

  1. Nghiên cứu khái quát hệ thống đồ thờ đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ.
  2. Nghiên cứu hệ thống đề tài hoa văn được chạm khắc trên các đồ thờ đá thông qua bốn lăng mộ tiêu biểu được lựa chọn khảo sát.
  3. Nghiên cứu những đặc điểm và giá trị của nghệ thuật chạm khắc hoa văn trên đồ thờ đá ở Bắc Bộ từ góc độ nghệ thuật tạo hình.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Nội dung và hình thức thể hiện của các hoa văn được chạm khắc trên các đồ thờ đá ở các lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII là gì và được thể hiện như thế nào?
  2. Nghệ thuật chạm khắc hoa văn trên đồ thờ bằng đá trong các lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ có những đặc trưng gì?
  3. Nghệ thuật chạm khắc hoa văn trên đồ thờ đá tại các lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ có vai trò và đóng góp gì cho nghệ thuật tạo hình truyền thống của người Việt?

Giả thuyết nghiên cứu xác định: Hoa văn chạm khắc trên đồ thờ vừa có chức năng thẩm mỹ, vừa biểu hiện ước vọng của con người qua hệ thống đề tài và kỹ thuật tạo tác; phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan và quan niệm về sự sống - cái chết của người xưa. Sự phong phú về đề tài và kỹ thuật xử lý khối, bề mặt, bố cục tạo hình đánh dấu bước chuyển biến nghệ thuật rõ rệt so với các giai đoạn trước và sau thế kỷ XVII - XVIII.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật chạm khắc hoa văn của người Việt trên đồ thờ bằng đá trong các lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ (chủ yếu là lăng mộ quan lại phong kiến), tập trung vào các đồ thờ phi nhân dạng.
  • Phạm vi không gian: Khu vực Bắc Bộ, tập trung tại các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Vĩnh Phúc (nơi còn khoảng hơn 90 di tích sinh từ, lăng mộ quan lại thời Lê Trung Hưng). Luận án khảo sát chuyên sâu 4 lăng mộ điển hình:
    • Thế kỷ XVII: Lăng Đặng Trung Túc (Bắc Ninh) và lăng Vũ Hồng Lượng (Hưng Yên).
    • Thế kỷ XVIII: Lăng Đỗ Bá Phẩm (Hà Nội) và lăng Nguyễn Danh Thưởng (Vĩnh Phúc).
  • Phạm vi loại hình: Tập trung vào các đồ thờ phi nhân dạng gồm 6 loại hình cơ bản: hương án, đẳng thờ, sập thờ, ngai thờ, bài vị, lư hương; cùng các đồ thờ phụ trợ như quán tẩy, cây hương, đài thờ, chân nến, khám thờ.
  • Phạm vi thời gian: Thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, có đối chiếu so sánh lịch đại với giai đoạn thế kỷ XIV (thời Trần), thế kỷ XV (thời Lê Sơ) và thế kỷ XIX (thời Nguyễn).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu tiền nhiệm theo bốn hướng tiếp cận chính:

1. Các nghiên cứu về nghệ thuật chạm khắc và hoa văn trang trí

  • Về nghệ thuật chạm khắc: Phan Cẩm Thượng (1997) trong Điêu khắc cổ Việt Nam phác thảo lịch sử điêu khắc từ tiền sử đến thế kỷ XIX, có đề cập chạm khắc lăng mộ; Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược (1999) trong Đồ họa cổ Việt Nam khảo sát kỹ thuật khắc chữ và hình họa tôn giáo; Chu Quang Trứ (2000) trong Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc khảo cứu điêu khắc lăng mộ ngoài trời; Lê Tạo (2006, 2008) nghiên cứu nghệ thuật chạm khắc đá truyền thống tại Thanh Hóa; Trương Duy Bích và Trương Thị Minh Hằng (2013) nghiên cứu chạm khắc gỗ và tạc tượng đồng vùng châu thổ sông Hồng; Nguyễn Văn Cương (2006) trong Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ phân tích biểu tượng kiến trúc và điêu khắc trang trí; Nguyễn Quang Hồng (1992) trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam phân loại văn bia và minh văn tại các di tích lăng mộ.
  • Về hoa văn trang trí: Jeannine Auboyer (1995) trong Mỹ thuật châu Á quy pháp tạo hình, phong cách cung cấp hệ thống đối chiếu tạo hình; Hoàng Minh (2003) và Hoài Phương (2004) hệ thống hóa các mẫu hoa văn dân gian, biểu tượng cát tường; Nguyễn Hữu Thông (2001) trong Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí phân loại hệ thống hoa văn động vật, thực vật, kỷ hà; Nguyễn Du Chi (2003) trong Hoa văn Việt Nam phân tích các mô-típ rồng, phượng, cúc, sen đến thế kỷ XV; Thái Dịch An (2003) nghiên cứu hoa văn rồng phượng; Trần Lâm Biền (2001) trong Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt khảo cứu hoa văn linh vật, cây cỏ, con người qua các thời kỳ; Lê Văn Thao (2003) khảo sát đồ án trang trí đền Vua Đinh - Vua Lê; Trần Hậu Yên Thế cùng các cộng sự (2017, 2018, 2020) nghiên cứu hình tượng nghê Việt và hoa văn trên bia tiến sĩ Văn Miếu; Trần Thị Biển (2019) nghiên cứu nghệ thuật trang trí bàn thờ Phật bằng đá thời Trần (thế kỷ XIV).

2. Các nghiên cứu về lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ

  • Hướng khảo cổ học: Các học giả người Pháp như L. Cadière (1905), H. Bezacier (1942), Ed. Castagnol (1937) khảo sát lăng tẩm Lam Kinh và tượng đá Bắc Kỳ; các nhà khảo cổ Việt Nam như Phạm Như Hồ, Đỗ Đình Truật (1972), Đặng Kim Ngọc (1980), Nguyễn Huy Hạnh (2000, 2004 với luận án về lăng đá Hà Bắc) thống kê hơn 40 lăng mộ tại Bắc Giang và 9 lăng tại Bắc Ninh.
  • Hướng mỹ thuật học: Nguyễn Phi Hoanh (1970), Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ (1978), Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng (1989), Vũ Tam Lang (1991), Nguyễn Đỗ Cung (1993), Lê Cường (1997), Nguyễn Du Chi (2000), Trịnh Quang Vũ (2002), Chu Quang Trứ (2002), Nguyễn Đình Toàn (2002), Đặng Phong Lan (2007), Phan Cẩm Thượng (2011), Nguyễn Văn Hùng (2020 với luận án về tượng lăng mộ Quận công thế kỷ XVII - XVIII).
  • Hướng văn hóa học: Nguyễn Du Chi (2001), Trang Thanh Hiền và Quách Ngọc An (2007), Trịnh Quang Vũ (2007), Phạm Ngọc Tuấn (2008), Quách Thị Ngọc An (2011), Trần Quang Đức (2013).

3. Các nghiên cứu về đồ thờ

  • Trần Lâm Biền (2003) trong Đồ thờ trong di tích của người Việt hệ thống hóa đồ thờ nhân cách và phi nhân dạng; Phan Cẩm Thượng (2011) trong Văn minh vật chất của người Việt khảo sát đồ thờ gia tiên và đồ thờ di tích; Phương Hoa (2008), Quách Thị Ngọc An và Nguyễn Văn Hùng (2013), Quách Thị Ngọc An (2014) khảo cứu đồ thờ đá và hình tượng nghê đá tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) và lăng họ Phạm; các công trình về phong tục thờ tự của Trương Thìn (2007), Bùi Xuân Mỹ (2007), Nguyễn Như Ý và Chu Huy (2011), Phan Kế Bính (2012), Nguyễn Bích Hằng và Lê Thị Uyên (2016).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chỉ tiếp cận đồ thờ đá một cách tản mạn dưới góc độ văn hóa học, hoặc tập trung vào tượng tròn và kiến trúc lăng mộ. Chưa có công trình nào khảo sát toàn diện hệ thống đồ thờ phi nhân dạng bằng đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII nhằm phân loại, giải mã hệ thống đề tài hoa văn và làm rõ các đặc trưng nghệ thuật tạo hình (ngôn ngữ khối, bố cục, thủ pháp tạo hình, kỹ thuật chế tác). Luận án của Nguyễn Xuân Giáp giải quyết trực tiếp khoảng trống này từ chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Thuyết Iconography ("Ảnh tượng ký") và Iconology ("Ảnh tượng học"):
    • Khởi xướng và phát triển bởi các học giả Émile Mâle, Aby Warburg và Erwin Panofsky. Thuyết này cung cấp khung phân tích để nhận diện các mô-típ (motif), chủ đề hình ảnh, phân tích nội dung biểu đạt và giải mã các tầng nghĩa văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng ẩn sau các hình tượng chạm khắc trên đồ thờ đá.
  2. Thuyết Formalism ("Hình thức học"):
    • Xuất phát từ triết học nghệ thuật của Hegel, Jacob Burckhardt, phát triển qua công trình Các nguyên lý cơ bản của Lịch sử nghệ thuật (1915) của Heinrich Wölfflin với 5 cặp phạm trù thị giác đối lập, cùng các lý thuyết của trường phái Vienna (Alois Riegl, Franz Wickhoff) và Henri Focillon (Đời các hình thức, 1934). Thuyết hình thức học được sử dụng để phân tích ngôn ngữ tạo hình thuần túy: đường nét, mảng khối, không gian, thủ pháp bố cục và xử lý bề mặt chất liệu đá.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp điền dã dân tộc học nghệ thuật: Khảo sát thực địa trực tiếp tại hơn 90 di tích lăng mộ ở Bắc Bộ; tiến hành đo đạc kích thước, chụp ảnh tư liệu, rập hoa văn, vẽ họa tiết kỹ thuật và phỏng vấn người trông coi di tích; khảo cứu sâu 4 trường hợp điển hình: lăng Đặng Trung Túc (Bắc Ninh), lăng Vũ Hồng Lượng (Hưng Yên), lăng Đỗ Bá Phẩm (Hà Nội), lăng Nguyễn Danh Thưởng (Vĩnh Phúc).
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các yếu tố lịch sử, phong cách thời đại, đặc thù chất liệu đá (đá xanh, đá ong), ngôn ngữ tạo hình và biểu cảm thẩm mỹ; tổng hợp liên ngành giữa mỹ thuật học, văn hóa học, khảo cổ học và Hán Nôm học.
  • Phương pháp so sánh nghệ thuật:
    • So sánh đồng đại: Đối chiếu hình thức đồ thờ và phong cách hoa văn giữa các lăng mộ cùng thế kỷ XVII - XVIII; đối chiếu đồ thờ đá với đồ thờ gỗ, đồ đồng, gốm sứ đương thời.
    • So sánh lịch đại: Đối chiếu đồ thờ đá thế kỷ XVII - XVIII với bệ đá hoa sen thời Trần (thế kỷ XIV), đồ đá thời Lê Sơ (thế kỷ XV) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu khảo sát thực địa trực tiếp (ảnh chụp, bản vẽ đo đạc, bản dập hoa văn).
  • Hệ thống văn khắc Hán Nôm trên các bài vị, cây hương, văn bia tại các lăng mộ.
  • Hệ thống hồ sơ xếp hạng di tích và các tài liệu lưu trữ chuyên ngành văn hóa nghệ thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đối tượng nghiên cứu (51 trang)

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập khung lý thuyết (Ảnh tượng học và Hình thức học), đồng thời khảo quát hiện trạng và phân loại hệ thống đồ thờ phi nhân dạng bằng đá trong các lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ.

Loại hình đồ thờ Vị trí bài trí tiêu biểu Đặc điểm tạo hình và kết cấu Hoa văn trang trí chủ đạo
Hương án (Bàn thờ/Án thư) Trung tâm khu thờ tự Khối hộp chữ nhật nguyên khối (hoặc ghép), có loại có hàng lan can/trụ mặt trên, chân quỳ dạ cá Hổ phù, rồng mây, hoa cúc, hoa sen, mây đao mác, hồi văn kỷ hà
Đẳng thờ Đặt đăng đối trước hương án Khối hộp chữ nhật giật cấp, kích thước nhỏ hơn hương án, chân quỳ dạ cá Chủ yếu trang trí hồi văn kỷ hà chữ T lồng móc, hoa lá hóa, hổ phù
Sập thờ Nằm sau hương án hoặc đàn tế Thân thấp, mặt rộng, chân quỳ dạ cá hoặc khối vuông phẳng lỳ Hoa cúc chữ S, long mã cỡi mây, sóng nước, vân mây đao mác, kỷ hà
Ngai thờ (Ỷ thờ) Vị trí cao nhất, trong cùng ban thờ Liền khối hoặc trổ thủng, tay ngai tạo hình đầu rồng/mây cuộn Rồng chầu, hoa sen, mây lửa, văn chữ T, chữ Triện lồng ghép
Bài vị (Thần chủ) Đặt trên ngai thờ hoặc khám thờ Ván đứng, đỉnh tròn mép răng cưa, thân chia tầng đối xứng, khắc chữ Hán Rồng chầu mặt trời, mây lửa, hoa cúc mãn khai, hoa sen, long mã
Lư hương Đặt trên hương án, sập hoặc đàn tế Khối chữ nhật rỗng lòng, khối trụ tròn (nồi hương) hoặc khối lục giác Rồng mây, sóng nước, hoa sen, mặt trời, gờ chỉ nổi, tai trổ thủng
Đồ thờ khác (Đài thờ, Cây hương, Quán tẩy...) Phân bố tùy quy mô lăng Đài thờ ghép khối lớn; Quán tẩy hình chậu tròn/lục giác/bồn rửa; Cây hương bát giác Rồng, phượng, thú thực (gà, cá), hoa lá sen cúc, văn khắc tiểu sử

Chương này cũng phân tích bối cảnh ra đời của 4 lăng mộ điển hình: lăng Vũ Hồng Lượng (khởi dựng 1689 tại Hưng Yên), lăng Đặng Trung Túc (khởi dựng 1689 tại Bắc Ninh), lăng Đỗ Bá Phẩm (xây dựng 1734 tại Hà Nội) và lăng Nguyễn Danh Thưởng (xây dựng nửa đầu thế kỷ XVIII tại Vĩnh Phúc).

Chương 2: Nhận diện đề tài hoa văn chạm khắc trên đồ thờ đá ở một số lăng mộ tiêu biểu thế kỷ XVII - XVIII (58 trang)

Chương 2 phân loại và giải mã hệ thống đề tài hoa văn chạm khắc trên đồ thờ đá:

  1. Hệ thống đề tài động vật:
    • Linh thú: Hình tượng rồng (thân trườn dài, vây mác, đuôi mây mác chỉa lên), phượng (cánh xòe, đuôi dài uốn lượn), lân, nghê (tạo hình đậm chất dân gian, sinh động), long mã (phi trên sóng nước và mây), hổ phù (khắc chính diện ở thân hương án với nét chạm khỏe khoắn, mắt lồi, miệng ngậm chữ Thọ hoặc ngậm ngọc).
    • Động vật thực: Hình tượng chim muông, gà, cá xuất hiện sinh động tại một số cấu kiện đài thờ và sập đá (tiêu biểu tại lăng Vũ Hồng Lượng).
  2. Hệ thống đề tài thực vật:
    • Hoa cúc (cúc mãn khai nhìn thẳng, cúc nhìn nghiêng, cúc dây lá cách điệu hình chữ S), hoa sen (cánh sen nở, cánh sen dằn chỉ, đài sen đỡ bệ thờ), cây cỏ thanh cao (tùng, trúc, mai, cúc lồng ghép theo bộ tứ quý).
    • Đồ án "thực vật hóa linh thú": lá hóa rồng, hoa hóa rồng, mây hóa rồng biểu hiện tư duy tạo hình linh hoạt của nghệ nhân dân gian.
  3. Hệ thống đề tài hình học (Kỷ hà):
    • Hồi văn chữ T, văn chữ Vạn, chữ Triện, các đường gãy khúc, ô vuông lồng móc liên hoàn chạy dọc các đường diềm, chân bệ tạo khung viền vững chãi và nhịp điệu trang nghiêm.
  4. Một số đề tài khác:
    • Hình tượng tự nhiên: Mây cuộn, mây cụm, mây đao mác sắc nhọn, sóng nước (thủy ba), mặt trời tỏa tia sáng.
    • Minh văn Hán Nôm: Chữ khắc ghi niên đại, chức tước, tên hiệu của chủ nhân được chạm khắc công phu, phối hợp nhịp nhàng với mảng hoa văn trang trí (tiêu biểu trên bài vị lăng Lê Cao Giản, lăng Phạm Nguyễn Công).

Khảo sát tại 4 lăng tiêu biểu cho thấy sự biến đổi đề tài: Thế kỷ XVII thiên về các khối chạm nổi chắc khỏe, mộc mạc, nhiều đồ án mây đao mác và hổ phù; sang thế kỷ XVIII xuất hiện dày đặc các đồ án hoa dây uốn lượn, kỹ thuật trổ thủng tinh xảo và các mô-típ kỷ hà lồng ghép phức tạp.

Chương 3: Đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc hoa văn trên đồ thờ đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII, giá trị và một số bàn luận (52 trang)

Chương 3 tổng kết các giá trị cốt lõi và đặc trưng nghệ thuật tạo hình:

  1. Đặc trưng nghệ thuật tạo hình:
    • Ngôn ngữ nghệ thuật: Kết hợp chặt chẽ giữa khối đặc vững chãi của chất liệu đá xanh tự nhiên với các đường nét chạm nổi, chạm chìm, gọt đẽo bề mặt dứt khoát; tạo sự tương phản giữa diện phẳng và diện trang trí dày đặc.
    • Thủ pháp tạo hình hoa văn: Sử dụng triệt để tính ước lệ, biến đổi, cách điệu hóa cao độ (đao mác hóa mây, lá hóa rồng); thủ pháp bố cục đăng đối trục, bố cục liên hoàn theo dải đường diềm và thủ pháp phân tầng không gian (tầng trời, tầng đất, tầng nước).
    • Chất liệu và kỹ thuật tạo tác: Khai thác đá xanh nguyên khối và đá ong; chuyển hóa từ kỹ thuật ghép nhiều phiến đá thời kỳ trước sang đục đẽo trên khối đá liền khối; kết hợp đa dạng kỹ thuật: chạm nổi (phù điêu), chạm lộng (trổ thủng hai bên tai ngai, tai lư hương), chạm chìm (minh văn) và mài bóng bề mặt.
  2. Giá trị nghệ thuật và văn hóa - tín ngưỡng:
    • Giá trị nghệ thuật: Đồ thờ đá lăng mộ thể hiện sự dung hợp giữa nghệ thuật tạo hình cung đình trang trọng và nghệ thuật dân gian mộc mạc, hóm hỉnh; khẳng định tài năng xử lý chất liệu đá cứng của người thợ thủ công Việt.
    • Giá trị văn hóa - tín ngưỡng: Phản ánh nhân sinh quan "sống gửi thác về", khẳng định uy quyền và công trạng của các Quận công thời Lê Trung Hưng; phản ánh sự hòa quyện Tam giáo đồng nguyên (Phật giáo qua hoa sen, Đạo giáo qua mây lửa, long mã, Nho giáo qua quy cách thứ bậc, minh văn bia ký) gắn kết với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và Thành hoàng làng.
  3. Bàn luận và so sánh:
    • Phân tích hiện tượng "biểu tượng hóa" trong hoa văn cổ; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa đồ thờ đá lăng mộ với đồ thờ gỗ trong chùa, đình làng; làm rõ tính độc lập về phong cách của đồ thờ đá thế kỷ XVII - XVIII so với bệ thờ thời Trần (thế kỷ XIV) và đồ thờ cung đình thời Nguyễn (thế kỷ XIX).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Hệ thống hóa toàn diện các tư liệu về đồ thờ phi nhân dạng bằng đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu của ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật đối với mảng di sản điêu khắc đá này.
  • Bước đầu phân loại khoa học các loại hình đồ thờ đá và hệ thống đề tài hoa văn trang trí (động vật, thực vật, hình học, tự nhiên, minh văn), giải mã ý nghĩa biểu tượng thị giác dựa trên phương pháp kết hợp Ảnh tượng học (Iconography) và Hình thức học (Formalism).
  • Xác lập các đặc trưng tạo hình tiêu biểu của nghệ thuật chạm khắc đá thời Lê Trung Hưng: ngôn ngữ xử lý khối phẳng, kỹ thuật chạm trổ nguyên khối, thủ pháp điêu khắc mây đao mác, rồng lá và hồi văn kỷ hà.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Bổ sung bộ tư liệu hình ảnh chất lượng cao, hệ thống bản vẽ đồ họa, bản rập hoa văn chi tiết tại các lăng mộ cổ phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo tại các cơ sở giáo dục văn hóa nghệ thuật.
  • Cung cấp nguồn hoa văn vốn cổ xác thực cho các họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà thiết kế ứng dụng vào sáng tạo mỹ thuật đương đại, kiến trúc, thiết kế nội thất và công nghiệp văn hóa.
  • Cung cấp cơ sở khoa học mỹ thuật phục vụ công tác tu bổ, tôn tạo, phục dựng và xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa tại các địa phương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào các đồ thờ phi nhân dạng bằng chất liệu đá tại các lăng mộ quan lại (Quận công) ở khu vực Bắc Bộ, trọng tâm là 4 lăng mộ điển hình. Các hiện vật đồ thờ bằng chất liệu khác (gỗ, gốm, kim loại) hoặc lăng mộ hoàng gia, lăng mộ tại khu vực miền Trung (Thanh Hóa, Huế) chỉ được đề cập ở góc độ so sánh đối chiếu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát toàn diện hệ thống đồ thờ đá tại các di tích lăng mộ hoàng gia thời Hậu Lê (khu di tích Lam Kinh) và lăng tẩm các chúa Trịnh.
    • Nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa đồ thờ đá lăng mộ với đồ thờ đá trong các cơ sở tôn giáo (chùa, quán Đạo giáo) cùng thời kỳ.
    • Nghiên cứu đối chiếu mỹ thuật đồ thờ đá Việt Nam với các nền nghệ thuật lân cận trong khu vực Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật, Hội họa, Điêu khắc, Mỹ thuật ứng dụng, Di sản học, Khảo cổ học và Văn hóa học; đặc biệt là chương phân loại đề tài hoa văn và phương pháp luận giải mã biểu tượng thị giác.
  2. Họa sĩ, nhà thiết kế: Khai thác nguồn tư liệu bản rập, bản vẽ họa tiết hoa văn cổ (hoa cúc, rồng mây, hồi văn, nghê đá) để đưa vào các dự án thiết kế đồ họa, thời trang, nội thất, mỹ nghệ truyền thống.
  3. Cơ quan quản lý văn hóa và bảo tồn di tích: Cung cấp cứ liệu lịch sử - mỹ thuật phục vụ công tác giám định niên đại, thẩm định hồ sơ di tích và thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di vật đá tại các lăng mộ cổ thế kỷ XVII - XVIII.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chuyên sâu những lăng mộ tiêu biểu nào?

Luận án lựa chọn 4 lăng mộ tiêu biểu có số lượng đồ thờ đá phong phú và giá trị tạo hình cao:

  • Thế kỷ XVII: Lăng Đặng Trung Túc (tại tỉnh Bắc Ninh) và lăng Vũ Hồng Lượng (tại tỉnh Hưng Yên).
  • Thế kỷ XVIII: Lăng Đỗ Bá Phẩm (tại TP. Hà Nội) và lăng Nguyễn Danh Thưởng (tại tỉnh Vĩnh Phúc).

2. Hệ thống đồ thờ phi nhân dạng bằng đá trong lăng mộ gồm những loại hình chính nào?

Hệ thống đồ thờ phi nhân dạng chính gồm 6 loại: hương án (bàn thờ/án thư), đẳng thờ, sập thờ, ngai thờ (ỷ thờ), bài vị (thần chủ) và lư hương. Ngoài ra còn có các hiện vật phụ trợ xuất hiện đơn lẻ như đài thờ, quán tẩy (bồn/chậu rửa tay), cây hương đá, khám thờ và chân nến đá.

3. Tác giả sử dụng những khung lý thuyết nền tảng nào để nghiên cứu hoa văn đồ thờ đá?

Tác giả sử dụng hai khung lý thuyết mỹ thuật học phương Tây:

  • Thuyết Ảnh tượng ký và Ảnh tượng học (Iconography & Iconology) của Émile Mâle, Aby Warburg, Erwin Panofsky để phân tích chủ đề, mô-típ và giải mã ý nghĩa biểu tượng.
  • Thuyết Hình thức học (Formalism) của Heinrich Wölfflin (với 5 cặp phạm trù thị giác đối lập) và Henri Focillon (Đời các hình thức) để phân tích đường nét, mảng khối, cấu trúc không gian và thủ pháp xử lý bề mặt đá.

4. Hoa văn chạm khắc trên đồ thờ đá thế kỷ XVII - XVIII mang những đề tài chủ đạo nào?

Hệ thống đề tài gồm 4 nhóm chính:

  • Nhóm động vật: Tứ linh (rồng, phượng, lân), nghê đá, long mã, hổ phù và động vật thực (gà, cá).
  • Nhóm thực vật: Hoa sen, hoa cúc, tùng, cúc, trúc, mai, hoa lá hóa rồng, hoa dây.
  • Nhóm hình học: Hồi văn chữ T, chữ Vạn, chữ Triện lồng móc, các đường bẻ góc liên hoàn.
  • Nhóm biểu tượng tự nhiên và chữ viết: Mây lửa, mây đao mác, sóng nước, mặt trời tỏa tia và minh văn chữ Hán - Nôm khắc trên bài vị, thân cột hương.

5. Sự khác biệt cơ bản về tạo tác hương án đá thế kỷ XVII - XVIII so với các giai đoạn trước là gì?

Ở các giai đoạn trước (như thời Trần thế kỷ XIV), hương án đá thường được ghép lại từ nhiều phiến đá rời. Sang thế kỷ XVII - XVIII, kỹ thuật tạo tác phát triển vượt bậc khi hầu hết hương án được chạm khắc từ một khối đá tự nhiên nguyên khối, chia 3 phần rõ rệt (mặt, thân, chân), kết hợp các đường chạm nổi hổ phù khỏe khoắn, hệ thống gờ chỉ bo viền giật cấp và mô phỏng kết cấu đồ gỗ truyền thống (chân quỳ dạ cá, hàng lan can trên mặt án).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Giáp là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về nghệ thuật chạm khắc hoa văn trên đồ thờ đá trong các lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ dưới góc nhìn lý luận và lịch sử mỹ thuật. Bằng việc kết hợp phương pháp điền dã chuyên sâu với lý thuyết Ảnh tượng học và Hình thức học, tác giả đã phân loại chi tiết các loại hình đồ thờ phi nhân dạng và giải mã các lớp nghĩa biểu tượng văn hóa - tâm linh của hệ đề tài hoa văn. Công trình không chỉ làm sáng rõ diện mạo, ngôn ngữ tạo hình và kỹ thuật chế tác đá của người Việt thời Lê Trung Hưng mà còn đóng góp bộ tư liệu bản vẽ, bản rập xác thực phục vụ nghiên cứu, đào tạo và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.