Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Đề tài Nghệ thuật chạm khắc hoa văn trên đồ thờ đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ mà NCS lựa chọn thuộc về mã ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật. Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu về giá trị của nghệ thuật chạm khắc đồ thờ đá trong lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII ở Bắc Bộ và những đóng góp về tạo hình của nghệ thuật chạm khắc đồ thờ đá. Để có thể giải quyết thấu đáo vấn đề đặt ra cũng như khẳng định quan điểm và kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó, NCS đã thực hiện việc sưu tầm và tham khảo những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Những nghiên cứu về nghệ thuật chạm khắc và hoa văn trang trí * Về nghệ thuật chạm khắc Nghệ thuật chạm khắc đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỹ thuật cổ Việt Nam, tạo nên vẻ đẹp và linh hồn cho các công trình kiến trúc, điêu khắc xưa. Vì thế, đây là hướng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu. Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã tham khảo một số tài liệu như: Phan Cẩm Thượng (1997), Điêu khắc cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội. Cuốn sách phác thảo về lịch sử điêu khắc Việt Nam với 5 nội dung chính: Điêu khắc Tiền sử; Điêu khắc nhà mồ Tây Nguyên; Điêu khắc Phù Nam và Chân Lạp; Điêu khắc Champa; Điêu khắc từ thế kỷ XI - XIX.
Hiện tại kho tàng điêu khắc này vẫn được lưu giữ trong các bảo tàng, đặc biệt trong các đền chùa vẫn được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo. Phần viết về điêu khắc từ thế kỷ XI - XIX đề cập đến một phần nội dung về chạm khắc trang trí hoa văn trong lăng mộ mà luận án định hướng nghiên cứu [114]. Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược (1999), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội. Sách viết về lịch sử đồ họa Việt Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX; Các loại hình và thể loại; Hình mẫu và ý tưởng; Phần minh họa giới thiệu hơn 300 tác phẩm đồ họa tôn giáo và dân gian từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX.
Trong đó, phần chạm khắc chữ và hình trên một số tác phẩm đồ họa Phật giáo là luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com 8 những phần tham khảo quan trọng đối với luận án [115]. Chu Quang Trứ (2000), Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội. Sách viết khá toàn diện về tượng cổ Việt Nam trong tiến trình lịch sử; Môi trường tồn tại của tượng cổ Việt Nam; Nghệ thuật tạo tượng, cách tạc tượng của cha ông xưa, một số quy cách về tạo tượng Phật. Phần điêu khắc trong lăng mộ đã đề cập đến nghệ thuật chạm khắc trong các lăng mộ qua một số thời kỳ trong đó có nghệ thuật lăng mộ thế kỷ XVII - XVIII [125].
Luận án Tiến sĩ nghệ thuật Nghệ thuật chạm khắc đá truyền thống ở Thanh Hóa của tác giả Lê Tạo (2006), Viện Văn hóa Thông tin đã hệ thống các hiện vật điêu khắc đá gồm: tượng người, tượng thú, đồ thờ, bia đá… ở Thanh Hoá, phân tích những đặc trưng tiêu biểu, làm rõ đặc trưng về hình thức nghệ thuật tạo hình và giá trị văn hóa [99]. Cuốn Một số đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc đá truyền thống ở Thanh Hóa của tác giả Lê Văn Tạo (2008), Nxb Thanh Hóa đã phân tích đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc đá truyền thống ở Thanh Hóa gồm có lăng mộ thời Lê Sơ và Lê - Trịnh ở đây. Tác giả đã đánh giá và kiến giải giá trị thông tin, các biểu tượng văn hóa thể hiện trên tác phẩm được chạm khắc trên đá [100]. Trương Duy Bích, Trương Thị Minh Hằng (2013), Nghệ thuật chạm gỗ và tạc tượng đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hoá Thông tin.
Cuốn sách viết về đặc trưng nghệ thuật chạm gỗ và tạc tượng đồng bằng sông Hồng và giới thiệu một số làng nghề tiêu biểu vùng đồng bằng sông Hồng. Tác giả lựa chọn 4 làng có các nghề sử dụng nguyên liệu gỗ là nghề đóng đồ mộc, nghề chạm gỗ, nghề chế tác tượng Phật hoặc tượng các con rối… thuộc 4 xứ “Đông, Nam, Đoài, Bắc” của châu thổ sông Hồng: Làng nghề chạm gỗ La Xuyên, Làng nghề Chàng Sơn, Làng nghề chạm gỗ Phù Khê… tìm hiểu những vấn đề cốt lõi của nghệ thuật chạm khắc gỗ và tạc tượng với mục đích làm rõ những đặc trưng riêng biệt và sự đóng góp của những làng nghề trong đời sống vật chất và tinh thần xã hội Việt xưa và nay. Cuốn sách cung cấp nhiều kiến thức về kỹ thuật và nghệ thuật chạm khắc nói chung và chạm khắc gỗ nói riêng [16]. Nguyễn Văn Cương (2006), Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
Sách nghiên cứu mỹ thuật đình làng từ góc độ trong mối luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.bo 9 quan hệ với văn hóa làng, nhằm phát hiện và khẳng định giá trị đặc sắc của mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ. Tác giả tập trung vào hai thành tố cơ bản của mỹ thuật đình làng là kiến trúc và điêu khắc đình làng. Nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố văn hóa tác động, chi phối thẩm mỹ và biểu tượng kiến trúc. Tìm hiểu ý nghĩa và biểu tượng của các môtíp trang trí, qua đó tìm hiểu đặc điểm, tính chất của mỹ thuật đình làng trên nền cảnh của văn hóa làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.
Trong đó, chương 2. Mỹ thuật đình làng - sự hiện hữu của tư duy và thẩm mỹ dân tộc gồm ba vấn đề: kiến trúc, điêu khắc, tranh vẽ ở đình làng giúp NCS có thể tham khảo về nghệ thuật chạm khắc trong các di tích mỹ thuật cổ [33]. Nguyễn Quang Hồng (chủ biên) (1992), Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Sách mô tả và lược thuật gần 2.000 văn bản khắc vào bia đá, chuông đồng, biển gỗ.
Cổ nhất là bia tạo năm 618 đời Tuỳ ở Đông Sơn, Thanh Hoá, mới nhất bia đề năm 1974 ở Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Sắp xếp theo 6 phần: đình (gồm cả hội quán), chùa, đền miếu (gồm cả am thờ và đạo quán), lăng mộ và từ đường, văn chỉ và vũ chỉ, chợ búa, cầu đò, hang động và vách núi. Kèm thêm các bản sách dẫn và phụ lục: sách dẫn niên đại, sách dẫn nhân danh bao gồm tên thật, tên hiệu, tên gọi theo chức tước, học vị. của các nhân vật chủ yếu được ghi ở các bản văn khắc, sách dẫn nguồn di tích cho biết nơi tồn tại hoặc lưu giữ các đơn vị văn khắc được mô tả và xếp số thứ tự trong sách, bảng kê các chữ kiêng huý, nguyên văn các bài thơ chữ nôm.
Đây là cuốn sách quý, giúp cho phần tài liệu về văn bia của một số lăng mộ trong luận án cùng nghệ thuật chạm khắc chữ trên một số hiện vật trong lăng mộ [59]. Như vậy, nghệ thuật chạm khắc đã được tiếp cận từ nhiều hướng và nhiều phương thức. Các tác giả cũng lựa chọn những đối tượng riêng để tìm hiểu về nghệ thuật này, ví dụ như chỉ lựa chọn chạm khắc, tạo tượng đề tài Phật giáo hay chạm khắc ở các làng nghề… Khảo sát một số tài liệu trên cũng cho thấy nghệ thuật chạm khắc đồ thờ đá trong các lăng mộ thực chất vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu chuyên sâu. * Về hoa văn trang trí Nghiên cứu hoa văn trang trí của mỹ thuật Việt Nam cũng là tìm về một mạch nguồn bản sắc văn hóa Việt Nam, qua đó phản ánh được tính chất xuyên suốt, đa (LUAN.bo luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.bo 10 dạng trong thống nhất của lịch sử nghệ thuật và văn hóa Việt Nam.
Đây cũng là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực quan tâm, tìm hiểu. Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã tham khảo một số cuốn sách viết về chủ đề này như: Jeannine Auboyer (Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương dịch) (1995), Mỹ thuật châu Á quy pháp tạo hình, phong cách, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội. Sách giới thiệu khái quát về lịch sử văn hóa và nghệ thuật của từng quốc gia châu Á trên cơ sở những tài liệu của các công trình nghiên cứu về mỹ thuật đã được công bố, cung cấp hệ thống hình vẽ minh họa có chú thích bao gồm hình vẽ các công trình kiến trúc, điêu khắc, trang trí cùng với các sản phẩm mỹ thuật đá, ngọc, đồng, vàng, bạc, sơn mài, gỗ. Cuốn sách có nội dung hữu ích giúp cho nghiên cứu sinh trong quá trình triển khai luận án khi cần phải tra cứu, tham khảo, hay đối chiếu [70].
Hoàng Minh (2003), Hoa văn trang trí thông dụng, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. Sách giới thiệu hơn 1000 mẫu hoa văn được chọn lọc từ những hoa văn trang trí nội thất và kiến trúc ở các công trình Việt Nam và nước ngoài. Những mẫu hoa văn gồm hoa lá, động vật, đồ vật được cách điệu thành những hình dáng mềm mại, cân đối, xếp đặt các họa tiết hoặc bằng kỹ thuật vi tính, mang giá trị tham khảo lớn cho hoạt động nghiên cứu mỹ thuật. Một số hoa văn trang trí đã được xếp thành đồ án có thể sử dụng trang trí các loại gạch men, thảm.
Một số hình ảnh hoa dây sử dụng trang trí đường diềm, áo, váy, khung tranh. Và nhiều hình ảnh hoa văn đã ứng dụng trong các công trình kiến trúc như đầu hồi nhà, tường nhà, cột kèo, cửa sổ, cửa ra vào. đồ mỹ nghệ như: mẫu thảm, mẫu thêu, chạm gỗ, trang trí trên gốm. Hoài Phương (2004), Mẫu hoa văn dân gian biểu thị những điều tốt lành, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
Sách lựa chọn những mẫu hoa văn tiêu biểu như: Hình tượng rồng bay phượng múa, phúc lộc thọ, như ý cát tường, vĩnh kết đồng tâm, tứ quý bình an… thường thấy trên các bức phù điêu, tượng đá, bình cổ, chạm trổ, tranh vẽ… sống động là những biểu tượng mang những ý nghĩa tốt lành trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng. Sách giúp cho nghiên cứu sinh tài liệu tham khảo, tra cứu giá trị, hữu ích, bổ sung thêm nhận thức về nét văn hóa đặc trưng này, hiểu thêm được những ý nghĩa hàm chứa, ẩn dụ qua mỗi hình tượng đặc sắc, mang đậm dấu ấn dân tộc… [92].