Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đóng vai trò trụ cột khi đóng góp hơn 60% tổng sản lượng thịt xẻ toàn ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, năng suất sinh sản đàn nái bình quân cả nước trong nhiều năm chỉ dao động ở mức 18 - 20 con cai sữa/nái/năm, thấp hơn đáng kể so với mức 28 - 32 con của các quốc gia có nền chăn nuôi tiên tiến. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ tiềm năng di truyền hạn chế của các giống lợn nội địa và rào cản thích nghi khí hậu nhiệt đới của đàn giống ngoại nhập. Việc đánh giá và khai thác tối đa sức sản xuất của các giống lợn ngoại cao sản như Landrace và Yorkshire nuôi giữ tại các cơ sở giống hạt nhân là nhiệm vụ cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng nguồn giống bố mẹ cho toàn ngành.

Luận văn tập trung giải quyết mục tiêu đánh giá toàn diện khả năng sinh sản của 566 lợn nái thuần chủng (gồm 226 nái Landrace và 340 nái Yorkshire); xác định chính xác định mức tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg lợn con cai sữa; đồng thời theo dõi tốc độ sinh trưởng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của đàn lợn con lai từ giai đoạn cai sữa đến 60 ngày tuổi. Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm giống lợn hạt nhân Hưng Việt (huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên) thuộc Công ty Cổ phần Austfeed Việt Nam trong khung thời gian 12 tháng liên tục, từ tháng 10/2018 đến tháng 09/2019.

Kết quả của công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống chỉ số sinh học tin cậy, giúp nâng cao chỉ số lứa đẻ đạt trên 2,50 lứa/nái/năm, rút ngắn khoảng cách lứa đẻ xuống 146 ngày và giảm giá thành sản xuất con giống thương phẩm cho các trang trại khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết di truyền số lượng trong chọn giống vật nuôi và Lý thuyết nội tiết - sinh lý sinh sản gia súc. Theo di truyền học số lượng, các tính trạng sinh sản ở lợn nái như số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ hay khối lượng sơ sinh đều có hệ số di truyền thấp, dao động trong khoảng từ 0,05 đến 0,30. Điều này đồng nghĩa với việc năng suất sinh sản chịu sự chi phối trên 70% bởi các yếu tố ngoại cảnh bao gồm dinh dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi và kỹ thuật quản lý chăm sóc.

Mô hình nghiên cứu vận dụng cơ chế điều hòa thể dịch của trục nội tiết Vùng dưới đồi - Tuyến yên - Buồng trứng. Dưới tác động của kích dục tố GnRH, tuyến yên tiết ra FSH và LH thúc đẩy quá trình phát triển noãn bao, rụng trứng và hình thành thể vàng tiết Progesteron để duy trì thai kỳ. Ba khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: Sức sản xuất của lợn nái (tổng năng lực tạo ra số lượng và khối lượng con giống/năm); Hiệu ứng đực giống (sử dụng pheromone Androstenol trong nước bọt lợn đực kích thích lợn cái thành thục tính dục); và Hệ số chuyển hóa thức ăn FCR (tỷ lệ kg thức ăn tiêu thụ trên mỗi kg tăng khối lượng). Khẩu phần dinh dưỡng được cân đối chặt chẽ với hàm lượng protein thô 13 - 15% cho nái và 19 - 20% cho lợn con, mức năng lượng trao đổi từ 2.900 đến 3.200 kcal/kg.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trên quy mô đàn nái hạt nhân gồm 226 nái Landrace phối với đực Yorkshire và 340 nái Yorkshire phối với đực Landrace. Để xác định tiêu tốn thức ăn sản xuất lợn cai sữa, tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên 30 ổ đẻ (15 ổ nái Landrace và 15 ổ nái Yorkshire) để cân đo chính xác lượng thức ăn thu nhận của lợn mẹ qua các kỳ chờ phối, mang thai 114 ngày, nuôi con và thức ăn tập ăn của lợn con. Thí nghiệm theo dõi sinh trưởng sau cai sữa đến 60 ngày tuổi được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 ổ/công thức, mỗi ổ 10 con và lặp lại 3 lần liên tiếp.

Nguồn dữ liệu kết hợp giữa dữ liệu hồi cứu từ phần mềm quản lý giống của trang trại (giai đoạn trước tháng 10/2018) và dữ liệu theo dõi thực nghiệm trực tiếp tại chuồng nuôi từ tháng 10/2018 đến tháng 09/2019. Toàn bộ số liệu được xử lý sơ bộ trên Excel và phân tích thống kê sinh học bằng mô hình tuyến tính tổng quát trên phần mềm SAS 9.0:

$$y_{ijk} = \mu + G_i + L_j + \varepsilon_{ijk}$$

Trong đó $G_i$ là ảnh hưởng của yếu tố giống, $L_j$ là ảnh hưởng của lứa đẻ và $\varepsilon_{ijk}$ là sai số ngẫu nhiên. Sự sai khác giữa các giá trị trung bình được kiểm định bằng phép thử Duncan ở mức ý nghĩa $P < 0,05$. Lý do lựa chọn mô hình thống kê này nhằm bóc tách và loại bỏ triệt để các biến thiên do thứ tự lứa đẻ, giúp đánh giá chính xác giá trị di truyền thực chất của hai giống ngoại trong cùng một điều kiện chăm sóc công nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận và chứng minh bốn phát hiện quan trọng về năng lực sinh sản và sinh trưởng của hai giống lợn ngoại:

Thứ nhất, các chỉ tiêu về sinh lý sinh dục giữa hai giống tương đương nhau và đạt chuẩn giống cao sản: Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái Landrace là 256,80 ± 52,97 ngày và Yorkshire là 260,67 ± 56,84 ngày; tuổi đẻ lứa đầu tương ứng đạt 371,12 ± 54,84 ngày và 372,95 ± 46,04 ngày (P > 0,05). Khoảng cách lứa đẻ được rút ngắn ấn tượng xuống 146,43 ngày ở Landrace và 146,31 ngày ở Yorkshire, giúp nâng chỉ số lứa đẻ bình quân đạt mức cao kỷ lục là 2,50 - 2,51 lứa/nái/năm.

Thứ hai, lợn nái Landrace thể hiện tính sai con và tỷ lệ sống sơ sinh vượt trội hơn so với Yorkshire có ý nghĩa thống kê (P < 0,05): Số con sơ sinh/ổ của Landrace đạt 11,86 con so với 11,59 con của Yorkshire; số con sơ sinh sống/ổ đạt 11,41 con ở Landrace so với 11,04 con ở Yorkshire (cao hơn 3,35%); tỷ lệ sơ sinh sống của Landrace đạt 96,48% so với 95,54% của Yorkshire.

Thứ ba, năng suất đàn con cai sữa của nái Landrace đạt giá trị kinh tế cao hơn: Số con cai sữa/ổ của Landrace đạt 10,25 con, vượt trội hơn mức 9,89 con của Yorkshire (P < 0,05). Khối lượng sơ sinh toàn ổ của Landrace đạt 18,97 kg so với 18,16 kg của Yorkshire (chênh lệch 4,46%); khối lượng cai sữa toàn ổ ở 22,7 - 23 ngày tuổi đạt 64,08 kg ở Landrace, cao hơn 6,37% so với mức 60,24 kg ở Yorkshire (P < 0,05). Tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa của cả hai giống đều duy trì ở mức lý tưởng, lần lượt là 90,71% và 91,09%.

Thứ tư, hiệu quả sử dụng thức ăn và sinh trưởng giai đoạn sau cai sữa đạt mức tối ưu: Lượng thức ăn tiêu tốn để sản xuất 1 kg lợn con cai sữa của giống Landrace là 5,65 kg và Yorkshire là 5,62 kg. Đàn con lai nuôi từ cai sữa đến 60 ngày tuổi đạt khối lượng toàn ổ 165,34 kg (mẹ Landrace) và 163,52 kg (mẹ Yorkshire), với hệ số chuyển hóa thức ăn FCR cực kỳ tiết kiệm, lần lượt đạt 1,20 và 1,25 kg thức ăn/kg tăng khối lượng (P > 0,05).

Thảo luận kết quả

Năng suất sinh sản của đàn nái hạt nhân trong nghiên cứu cao hơn hẳn so với nhiều công bố trước đây tại Việt Nam. Cụ thể, số con sơ sinh sống/ổ đạt 11,41 con (Landrace) và 11,04 con (Yorkshire), vượt trội so với các kết quả khảo sát tại Trại giống Thụy Phương (khoảng 9,60 - 10,04 con) và tương đương với các quần thể hạt nhân chuẩn tại Thụy Điển hay Đan Mạch (10,58 - 10,94 con).

Nguyên nhân chính giúp đàn nái đạt năng suất cao là do trung tâm đã áp dụng triệt để quy trình kiểm tra động dục bằng đực thí tình 2 lần/ngày kết hợp kỹ thuật phối giống kép đúng thời điểm mê ì (từ 24 đến 30 giờ sau khi chịu đực), giúp tỷ lệ thụ tinh của trứng rụng đạt cực đại. Bên cạnh đó, việc thực hiện quy trình cai sữa sớm ở 22,70 - 22,99 ngày kết hợp kỹ thuật tập ăn từ 5 - 7 ngày tuổi bằng thức ăn chất lượng cao (20% protein thô) đã bảo vệ tốt thể trạng nái mẹ, rút ngắn thời gian chờ phối và giúp nái nhanh chóng động dục trở lại trong vòng 4 - 7 ngày.

Các tập dữ liệu về biến thiên năng suất sinh sản qua từng lứa đẻ được trực quan hóa rất rõ ràng thông qua bảng phân tích đa biến GLM và hệ thống biểu đồ so sánh tương quan. Biểu đồ chỉ ra quy luật sinh học điển hình: năng suất sinh sản đạt mức thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, tăng dần và đạt đỉnh cao nhất ở các lứa 3, 4, 5, sau đó duy trì ổn định đến lứa 6 - 7 trước khi có xu hướng giảm nhẹ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu được, tác giả đưa ra bốn giải pháp trọng tâm nhằm duy trì và tối ưu hóa sức sản xuất của đàn lợn giống:

  1. Chuẩn hóa kỹ thuật phát hiện động dục và gieo tinh nhân tạo: Áp dụng nghiêm ngặt quy trình dắt đực nọc thí tình kiểm tra tiếp xúc trực tiếp 2 lần/ngày (lúc 5h30 sáng và 17h30 chiều); thực hiện phối kép 2 lần cách nhau 12 giờ tại thời điểm nái đạt trạng thái đứng ì. Mục tiêu duy trì tỷ lệ thụ thai toàn đàn đạt trên 92% và tỷ lệ sơ sinh sống trên 96%, triển khai liên tục từ quý 1 năm 2020 do Đội ngũ kỹ thuật chuồng phối chịu trách nhiệm.

  2. Điều chỉnh khẩu phần ăn định lượng theo giai đoạn mang thai: Áp dụng định mức dinh dưỡng phân kỳ: khống chế lượng cám 1,8 - 2,0 kg/ngày trong kỳ chửa 1 (từ ngày phối đến ngày 84) nhằm hạn chế tích lũy mỡ gây chết phôi; tăng cường dinh dưỡng giai đoạn chửa 2 (từ ngày 85 đến khi đẻ) và áp dụng công thức nuôi con: 2,0 kg + (số con × 0,3 kg cám/ngày). Mục tiêu hạ định mức tiêu tốn thức ăn xuống dưới 5,50 kg/kg lợn cai sữa, thực hiện định kỳ dưới sự giám sát của Trưởng bộ phận Dinh dưỡng.

  3. Thực hiện đồng bộ quy trình cai sữa sớm và chăm sóc lợn con: Kiên định áp dụng thời gian cai sữa sớm trong khoảng 21 - 23 ngày tuổi; tập cho lợn con ăn sớm từ ngày thứ 5 bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có bổ sung men tiêu hóa và khoáng vi lượng; duy trì nhiệt độ ổ úm sưởi ấm 32 - 34°C. Mục tiêu đạt khối lượng cai sữa bình quân trên 6,20 kg/con và hệ số FCR giai đoạn 60 ngày tuổi dưới 1,22, hoàn thành chuẩn hóa quy trình trong vòng 6 tháng tới do Quản lý phân xưởng đẻ điều hành.

  4. Khai thác hiệu quả công thức lai chéo tạo đàn nái bố mẹ: Ưu tiên sử dụng công thức nái thuần Landrace phối đực thuần Yorkshire để tận dụng tối đa ưu thế lai về số con sơ sinh sống (11,41 con/ổ) và khối lượng cai sữa toàn ổ (64,08 kg); tổ chức chuyển giao tối thiểu 1.500 nái hậu bị bố mẹ F1 chất lượng cao mỗi năm cho hệ thống trang trại vệ tinh tại miền Bắc, do Phòng Phát triển kinh doanh giống phụ trách từ năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho bốn nhóm đối tượng:

  1. Chủ trang trại và nhà quản lý doanh nghiệp chăn nuôi công nghiệp: Tiếp cận bộ định mức kỹ thuật thực tế về tiêu tốn thức ăn (5,62 - 5,65 kg/kg lợn cai sữa), hệ số FCR đàn con (1,20 - 1,25) và chỉ số lứa đẻ (2,5 lứa/năm) để xây dựng phương án tài chính, định biên chi phí thức ăn và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế trên quy mô đàn lớn.

  2. Kỹ sư chăn nuôi và chuyên viên quản lý kỹ thuật trại giống: Sử dụng như một cẩm nang thực hành chi tiết về kỹ thuật điều hành chuồng đẻ, phác đồ bấm nanh, tiêm sắt, quy trình phối tinh 2 lần và phương pháp cai sữa sớm giúp giảm tỷ lệ hao hụt đàn con theo mẹ xuống dưới 9%.

  3. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm so sánh giống, kỹ thuật thu thập chỉ tiêu sinh sản và phương pháp ứng dụng mô hình tuyến tính tổng quát GLM trên phần mềm SAS để phân tích phương sai trong nghiên cứu di truyền giống vật nuôi.

  4. Cơ quan quản lý nông nghiệp và cán bộ khuyến nông các tỉnh phía Bắc: Có thêm luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác định hướng cơ cấu giống vật nuôi, xây dựng chương trình cải tạo đàn lợn hướng nạc và ban hành chính sách phát triển chăn nuôi an toàn sinh học tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Giống lợn Landrace và Yorkshire có sự khác biệt như thế nào về năng suất sinh sản?
Lợn nái Landrace thể hiện ưu thế nhỉnh hơn về số con sơ sinh sống (11,41 con so với 11,04 con ở Yorkshire, P < 0,05) và khối lượng cai sữa toàn ổ (64,08 kg so với 60,24 kg). Tuy nhiên, cả hai giống đều đạt chỉ số sinh sản rất cao, tạo thành cặp phối chéo lý tưởng để sản xuất đàn nái bố mẹ thương phẩm.

2. Định mức tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg lợn con cai sữa được tính toán như thế nào?
Tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1 kg lợn con cai sữa đạt 5,65 kg ở giống Landrace và 5,62 kg ở giống Yorkshire. Định mức này được tính bằng tổng lượng thức ăn nái mẹ tiêu thụ qua cả 3 giai đoạn (chờ phối, mang thai 114 ngày, nuôi con) cộng với lượng thức ăn tập ăn của lợn con, chia cho tổng khối lượng cai sữa toàn ổ.

3. Vì sao việc sử dụng lợn đực thí tình lại giúp nâng cao tỷ lệ thụ thai của đàn nái?
Lợn đực nọc trưởng thành tiết ra pheromone Androstenol qua tuyến nước bọt. Khi cho tiếp xúc trực tiếp với nái hậu bị và nái chờ phối 2 lần mỗi ngày, kích thích này giúp cơ thể con cái nhanh chóng phát tín hiệu thần kinh kích hoạt trục nội tiết, thúc đẩy noãn bao phát triển đồng đều và biểu hiện triệu chứng mê ì rõ nét.

4. Cai sữa sớm cho lợn con ở 21 - 23 ngày tuổi đem lại lợi ích kinh tế gì?
Cai sữa sớm giúp rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ xuống 146,3 - 146,4 ngày, qua đó nâng số lứa đẻ đạt mức 2,50 - 2,51 lứa/nái/năm. Phương pháp này giảm thiểu sự hao mòn thể trạng của lợn mẹ, giúp nái nhanh chóng phục hồi thể lực và gia tăng sản lượng con giống xuất chuồng hàng năm lên trên 25 con/nái.

5. Tốc độ tăng trưởng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của lợn con lai đến 60 ngày tuổi đạt mức nào?
Đàn lợn con lai từ cai sữa đến 60 ngày tuổi đạt khối lượng toàn ổ từ 163,52 kg đến 165,34 kg (bình quân trên 16,3 kg/con). Hệ số chuyển hóa thức ăn FCR đạt mức tối ưu từ 1,20 đến 1,25 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, khẳng định khả năng hấp thu dinh dưỡng và tiềm năng sinh trưởng vượt trội của con lai.

Kết luận

  • Đàn lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống lợn hạt nhân Hưng Việt thích nghi hoàn hảo với điều kiện chăn nuôi công nghiệp, đạt năng suất sinh sản cao với số con sơ sinh sống bình quân 11,04 - 11,41 con/ổ và tỷ lệ sơ sinh sống trên 95,54% - 96,48%.
  • Nái Landrace thể hiện ưu thế vượt trội về khối lượng cai sữa toàn ổ đạt 64,08 kg so với 60,24 kg của Yorkshire, trong khi định mức tiêu tốn thức ăn sản xuất 1 kg lợn cai sữa duy trì ở mức tối ưu 5,62 - 5,65 kg.
  • Chỉ số lứa đẻ đạt mức xuất sắc 2,50 - 2,51 lứa/nái/năm nhờ áp dụng thành công quy trình cai sữa sớm ở 22,7 - 23 ngày tuổi và kỹ thuật phối tinh kép đúng thời điểm rụng trứng.
  • Đàn lợn con lai từ cai sữa đến 60 ngày tuổi có khả năng tăng trưởng vượt trội, đạt khối lượng trên 163 kg/ổ với hệ số chuyển hóa thức ăn FCR tiết kiệm từ 1,20 - 1,25 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.
  • Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, khẳng định giá trị khai thác công thức lai chéo Landrace × Yorkshire nhằm nâng cao chất lượng đàn giống bố mẹ và thúc đẩy quá trình nạc hóa đàn lợn thương phẩm tại các tỉnh miền Bắc.

Trong giai đoạn 2020 - 2022, các đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp cần tiếp tục theo dõi sức sản xuất của đàn nái qua các lứa đẻ cao hơn (lứa 6 đến lứa 8) và đánh giá chất lượng thịt xẻ thương phẩm của tổ hợp lai ba máu kết hợp đực cuối Duroc. Quý bạn đọc, chủ trang trại và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể liên hệ trực tiếp với Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam hoặc Trung tâm giống lợn hạt nhân Hưng Việt để tiếp nhận chuyển giao quy trình kỹ thuật và nguồn giống hạt nhân chất lượng cao.