Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế học của tác giả Bùi Hoàng Ngọc, chuyên ngành Kinh tế học (mã số 931 01 01), thực hiện tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Minh Hà, nghiên cứu chủ đề: "Hội nhập, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo cách tiếp cận của trường phái tân cổ điển, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào bốn nguồn vốn cơ bản: vốn tài nguyên, vốn lao động, vốn tư bản và vốn khoa học kỹ thuật. Tại các quốc gia đang phát triển, các nguồn lực này thường ở tình trạng khan hiếm và chất lượng thấp. Samuelson và Nordhaus (1985) đã chỉ ra vòng luẩn quẩn của các nền kinh tế mới nổi: tiết kiệm và tích lũy thấp dẫn đến đầu tư thấp, năng suất lao động thấp, thu nhập chậm cải thiện, từ đó hạn chế khả năng tích lũy vốn vật chất. Để tạo "cú huých" từ bên ngoài nhằm thoát khỏi bẫy tăng trưởng thấp, các quốc gia cần bổ sung vốn vật chất thông qua kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vay nợ hoặc chuyển nhượng tài sản. Cùng với tích lũy vốn, nhu cầu đổi mới công nghệ cũng trở nên cấp thiết khi công nghệ được xem là lực lượng sản xuất then chốt.
Bên cạnh yếu tố vốn và công nghệ, năng lượng là yếu tố đầu vào thiết yếu của mọi hoạt động sản xuất của cải vật chất. Kể từ sau các cuộc khủng hoảng dầu mỏ giai đoạn 1970–1980, biến động giá năng lượng toàn cầu diễn biến phức tạp và khó dự báo, đặt ra yêu cầu phải nhận diện chính xác vai trò của từng loại năng lượng đối với tăng trưởng kinh tế. Đối với Việt Nam – quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ làm gia tăng áp lực cung ứng năng lượng, đặc biệt là điện năng.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế, tác giả luận án chỉ ra các khoảng trống học thuật:
- Các nghiên cứu về hội nhập thường xem xét riêng lẻ từng khía cạnh (toàn cầu hóa, hội nhập tài chính, hội nhập thương mại), chưa đánh giá đồng thời cả ba dạng hội nhập cho trường hợp cụ thể của Việt Nam.
- Các phân tích thực nghiệm trước đây thường giả định tác động của hội nhập là đồng nhất theo thời gian, bỏ qua "hiệu ứng ngưỡng" của các biến điều kiện vĩ mô như tỷ lệ lạm phát.
- Các nghiên cứu chuỗi thời gian tại Việt Nam thường bỏ qua sự tồn tại của các "điểm gãy cấu trúc" (structural breaks) bắt nguồn từ các sự kiện kinh tế lớn (như cột mốc năm 1995 khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận, Việt Nam gia nhập ASEAN và vận hành đường dây 500 kV Bắc – Nam; hoặc năm 2008 khi gia nhập WTO).
- Nghiên cứu về tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào điện năng, chưa phân tích đồng thời cả tiêu thụ điện và tiêu thụ xăng dầu như hai nguồn năng lượng thay thế, đồng thời áp đặt giả định phi thực tế rằng tác động của năng lượng đến tăng trưởng là đối xứng (tác động của việc tăng tiêu thụ bằng tác động của việc giảm tiêu thụ).
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- (i) Phân tích mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
- (ii) Phân tích mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
- (iii) Phân tích tác động của tiêu thụ năng lượng và hội nhập kinh tế đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:
- (i) Tiêu thụ năng lượng tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam?
- (ii) Hội nhập kinh tế tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trước và sau năm 1995?
- (iii) Tiêu thụ năng lượng và hội nhập kinh tế tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và bằng chứng thực tiễn về mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba khía cạnh hội nhập kinh tế (toàn cầu hóa, hội nhập tài chính, hội nhập thương mại) và hai dạng năng lượng đại diện (tiêu thụ điện bình quân đầu người và tiêu thụ xăng dầu bình quân đầu người). Độ mở thương mại chỉ tính trên giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa (Trade in goods), không nghiên cứu xuất nhập khẩu dịch vụ (Trade in service). Luận án không bao gồm các dạng năng lượng khác như năng lượng hạt nhân hay năng lượng tái tạo.
- Phạm vi thời gian: Tác động của hội nhập kinh tế đến tăng trưởng kinh tế được phân tích trong giai đoạn 1986–2018; tác động của tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế được phân tích trong giai đoạn 1971–2017; tổng thể chuỗi dữ liệu thứ cấp thu thập phục vụ luận án bao quát từ năm 1971 đến năm 2018.
- Phạm vi không gian: Cấp độ kinh tế vĩ mô toàn quốc tại Việt Nam, không phân tích theo từng ngành kinh tế hay từng tỉnh, thành phố.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về hội nhập kinh tế
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo ba khía cạnh của hội nhập kinh tế:
Hướng nghiên cứu về toàn cầu hóa: Dreher (2006) thiết lập bộ chỉ số toàn cầu hóa (KOF) gồm ba trụ cột (kinh tế, xã hội, chính trị) và kiểm định trên mẫu 123 quốc gia giai đoạn 1970–2000 bằng phương pháp OLS và GMM, kết luận hội nhập kinh tế và xã hội thúc đẩy tăng trưởng. Frankel (2000) chứng minh hội nhập giúp giảm chi phí vận tải và thông tin, hạ giá thành thương mại tại Mỹ từ năm 1920 đến 1990. Pelegrinová và Lačný (2013) nghiên cứu 12 nước phát triển chỉ ra toàn cầu hóa thu hút FDI và kích thích tăng trưởng. Suci và cộng sự (2015) nghiên cứu 6 nước ASEAN (2006–2012) kết luận hội nhập kinh tế và chính trị thúc đẩy tăng trưởng, trong khi hội nhập xã hội không có tác động. Ngược lại, Neagu (2017) tìm thấy tác động âm của hội nhập xã hội ở Romania giai đoạn 1990–2013. Shahbaz và cộng sự (2017c, 2018) nghiên cứu nhóm nước Bắc Mỹ, Châu Âu, Hà Lan và Ireland bằng kỹ thuật ước lượng gộp PMG và QARDL, chứng minh toàn cầu hóa thúc đẩy tiêu thụ năng lượng. Tại Việt Nam, Hương (2013) cùng Đạt và Vân (2017) ghi nhận toàn cầu hóa tạo điều kiện thu hút FDI và cải thiện cán cân thương mại.
Hướng nghiên cứu về hội nhập tài chính: Luận án tổng hợp các kết quả thực nghiệm thành ba nhóm quan điểm:
- Nhóm ủng hộ: Dựa trên lý thuyết dịch chuyển dòng vốn (McDougall, 1961) và kênh tác động quy mô - phân bổ nguồn lực (Bretschger và Steger, 2004; Gandolfo, 2014). Obstfeld (1994), Acemoglu và Zilibotti (1997), Edison và cộng sự (2002) cho rằng tự do hóa tài chính giúp đa dạng hóa rủi ro, hạ thấp chi phí vốn và tăng cường tích lũy tư bản. Bonfiglioli (2008), Altomonte và Nicolini (2012), Bauer và cộng sự (2014), Dreger và Zhang (2014), Samina và cộng sự (2019), Lawal và cộng sự (2016), Coulibaly và cộng sự (2018) nhận định cạnh tranh quốc tế thúc đẩy doanh nghiệp nội địa nâng cao năng suất và áp dụng công nghệ mới.
- Nhóm phản biện và chỉ ra rủi ro: Bắt nguồn từ nghịch lý Lucas (Lucas, 1990) khi dòng vốn không chảy từ nước giàu sang nước nghèo như lý thuyết do rủi ro thể chế và chất lượng vốn nhân lực thấp. Boyd và Smith (1992), Rodrik (1998), Edwards (2001), Okada (2013) lập luận rằng tại các nước thể chế yếu kém, mở cửa tài khoản vốn khiến vốn ròng bị rút ra ngoài. Bumann và cộng sự (2013), Carp (2014), Kurul (2017), Rahman và Shahari (2017), Vinh và Phong (2017), Trang và Kiều (2015) nhấn mạnh các nước đang phát triển quy mô nhỏ, dự trữ ngoại hối mỏng sẽ dễ tổn thương trước các cú sốc tài chính toàn cầu.
- Nhóm hỗn hợp và có điều kiện: Arteta và cộng sự (2001), Edwards (2001), Edison và cộng sự (2002) chỉ ra kết quả tác động phụ thuộc vào mẫu nghiên cứu và quy tắc ước lượng. Khan và Senhadji (2001), Ayhan Kose và cộng sự (2011), Chen và Quang (2014) chứng minh tác động của hội nhập tài chính chịu sự điều tiết của các ngưỡng kinh tế vĩ mô như lạm phát và phát triển tài chính.
Hướng nghiên cứu về hội nhập thương mại: Choe (2001), Guei và le Roux (2019) ghi nhận độ mở thương mại mở rộng chu kỳ kinh tế và hỗ trợ tăng trưởng. Proudman và cộng sự (1998), Frankel và Cavallo (2008), Krugman (1988), Musila và Yiheyis (2015), Danlami và cộng sự (2018), Ma và cộng sự (2019) sử dụng chỉ số độ mở thương mại để đánh giá mức độ hấp thụ công nghệ và phân bổ tài nguyên. Ganuza và Hauk (2004), Sand-Zantman (2004) tìm thấy tác động cải thiện chất lượng khu vực công khi đẩy mạnh mở cửa thương mại.
Các hướng nghiên cứu về tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế
Theo khảo sát tổng hợp của Omri (2014) trên các công trình thực nghiệm quốc tế, mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế phân hóa thành bốn giả thuyết chính:
- Giả thuyết bảo tồn (Conservation hypothesis): Tăng trưởng kinh tế tác động một chiều đến tiêu thụ năng lượng (chiếm khoảng 23% các nghiên cứu).
- Giả thuyết tăng trưởng (Growth hypothesis): Tiêu thụ năng lượng tác động một chiều đến tăng trưởng kinh tế, phản ánh nền kinh tế phụ thuộc vào năng lượng (chiếm khoảng 29% các nghiên cứu).
- Giả thuyết phản hồi (Feedback hypothesis): Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều tương hỗ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế (chiếm khoảng 27% các nghiên cứu).
- Giả thuyết trung lập (Neutrality hypothesis): Không tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hai biến số (chiếm khoảng 21% các nghiên cứu).
Các nghiên cứu quốc tế đã sử dụng đa dạng các chỉ tiêu năng lượng: tiêu thụ điện (Ramcharran, 1990; Yang, 2000; Narayan và Smyth, 2005; Ghosh, 2009); khí tự nhiên và xăng dầu (Ozturk và Al-Mulali, 2015; Destek, 2016; Solarin và Ozturk, 2016; Sinaga và cộng sự, 2019); năng lượng hạt nhân (Yoo và Jung, 2005; Payne và Taylor, 2010; Wolde-Rufael và Menyah, 2010; Ocal và Aslan, 2013). Về mối liên hệ giữa hội nhập và năng lượng, Sadorsky (2011, 2012), Ghani (2012), Shahbaz và cộng sự (2014, 2016), Nasreen và Anwar (2014) chỉ ra hoạt động ngoại thương và dòng vốn làm gia tăng nhu cầu sử dụng phương tiện vận chuyển và máy móc, tác động trực tiếp đến tiêu thụ năng lượng.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Cảnh (2011), Quyết và Khánh (2014), Tang và cộng sự (2016), Clottey và cộng sự (2018), Thuy Ho và cộng sự (2019) mới chỉ phân tích tiêu thụ điện và áp đặt cấu trúc tuyến tính cố định.
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án định vị trọng tâm vào việc khắc phục các hạn chế phương pháp luận và dữ liệu của các nghiên cứu trước:
- Đánh giá toàn diện cả ba chiều hướng hội nhập kinh tế (toàn cầu hóa, hội nhập tài chính, hội nhập thương mại) trong cùng bối cảnh quốc gia Việt Nam thay vì phân tích đơn lẻ.
- Kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngưỡng lạm phát, xác định biên độ lạm phát mà tại đó hội nhập tài chính và thương mại phát huy tác động tích cực hoặc bị đảo chiều tác động.
- Xác định các điểm gãy cấu trúc trong chuỗi thời gian do các biến cố thể chế và hạ tầng gây ra (đặc biệt là năm 1995 với việc đưa vào vận hành đường dây 500 kV Bắc – Nam và bình thường hóa quan hệ ngoại giao, gia nhập ASEAN).
- Đưa đồng thời cả tiêu thụ điện và tiêu thụ xăng dầu vào mô hình để kiểm tra vai trò bổ sung, thay thế giữa hai nguồn năng lượng huyết mạch.
- Kiểm định tính bất đối xứng và phi tuyến trong dài hạn của tiêu thụ điện và xăng dầu đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Tăng trưởng kinh tế: Luận án tiếp thu định nghĩa của Thirlwall (1994) và Kuznets (1955), xác định tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập bình quân hoặc sản lượng thực tế của toàn bộ nền kinh tế qua các năm, loại trừ tác động của trượt giá (lạm phát). Luận án sử dụng tốc độ tăng trưởng GDP thực và GDP bình quân đầu người làm chỉ báo đo lường.
- Hội nhập kinh tế: Sử dụng định nghĩa của Balassa (1961, 1994) – quá trình xóa bỏ sự phân biệt đối xử kinh tế giữa các quốc gia.
- Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và nội sinh: Luận án kế thừa hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng dạng $Y = A \cdot K^\alpha \cdot L^{1-\alpha}$ từ Solow (1956) và khung phân tích tăng trưởng nội sinh của Romer (1989, 1990), Arrow (1962), Barro và Sala-i-Martin (1995). Trong đó, năng lượng ($E$) và vốn vật chất tích lũy từ hội nhập được đưa vào như các yếu tố đầu vào thiết yếu quyết định năng suất và sản lượng.
- Lý thuyết năng suất cận biên của vốn: Vận dụng mô hình McDougall (1961) giải thích dòng luân chuyển vốn quốc tế dựa trên chênh lệch tỷ suất sinh lời cận biên giữa các quốc gia.
- Kênh truyền dẫn thương mại: Vận dụng mô hình của Bretschger và Steger (2004) để phân tách tác động của hội nhập thương mại qua kênh quy mô (Scale-effect channel) và kênh tái phân bổ nguồn lực (Factor-reallocation channel).
- Lý thuyết hiệu quả kinh tế do quần tụ: Vận dụng lý thuyết của Brueckner (2011) giải thích vai trò của tỷ lệ đô thị hóa qua ba kênh: cắt giảm chi phí giao dịch/vận tải, chia sẻ thị trường lao động và lan tỏa tri thức công nghệ.
Định nghĩa biến số và nguồn dữ liệu
| Tên biến |
Ký hiệu |
Định nghĩa và cách đo lường |
Nguồn dữ liệu |
| Tăng trưởng kinh tế |
$g_Y$ / GDP |
Tốc độ tăng trưởng GDP thực hoặc GDP bình quân đầu người |
Ngân hàng Thế giới (WB) |
| Toàn cầu hóa |
KOF |
Chỉ số toàn cầu hóa tổng hợp (thang điểm 0–100) gồm: kinh tế (36%), xã hội (37%), chính sách (27%) |
Viện Nghiên cứu Kinh tế Thụy Sĩ (KOF) |
| Hội nhập tài chính |
IFI / FAI |
Tỷ lệ tổng dòng vốn FDI và đầu tư gián tiếp (vào + ra) trên GDP: $[FDI_{in} + FDI_{out} + FII_{in} + FII_{out}] / GDP$ |
UNCTAD, WB |
| Hội nhập thương mại |
OPEN |
Độ mở thương mại hàng hóa: $[Xuất\ khẩu + Nhập\ khẩu] \times 100% / GDP$ (Trade in goods) |
UNCTAD, WB |
| Tiêu thụ điện |
EC |
Mức tiêu thụ điện năng thương phẩm bình quân đầu người (kWh/người) |
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) |
| Tiêu thụ xăng dầu |
OC |
Mức tiêu thụ xăng dầu bình quân đầu người (kg/người) |
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) |
| Lạm phát |
INF |
Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng CPI hàng năm (%) |
WB, IMF |
| Đô thị hóa |
URB |
Tỷ lệ dân số thành thị trên tổng dân số (%) |
WB |
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án là công trình nghiên cứu định lượng hoàn toàn, sử dụng kinh tế lượng chuỗi thời gian (Time-series Econometrics) với các bước phân tích:
- Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu: Thực hiện các kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Tests) như Augmented Dickey-Fuller (ADF) và Phillips-Perron (PP) nhằm đảm bảo không có biến số nào dừng ở bậc hai $I(2)$, thỏa mãn điều kiện biến dừng ở bậc $I(0)$ hoặc $I(1)$.
- Xác định độ trễ tối ưu: Căn cứ vào các tiêu chuẩn thông tin Akaike Information Criterion (AIC) và Schwarz Information Criterion (SIC/SBC).
- Kiểm định đồng liên kết có điểm gãy cấu trúc: Kiểm định biên (Bounds test) kiểm tra mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến số trong điều kiện chuỗi dữ liệu có xuất hiện điểm gãy cấu trúc (Structural Breaks).
- Phương pháp tự hồi quy phân phối trễ tuyến tính (ARDL): Do Pesaran và Shin (1995), Pesaran và cộng sự (2001) phát triển, dùng để ước lượng đồng thời hệ số tác động trong ngắn hạn và dài hạn giữa các biến số hội nhập, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế.
- Mô hình hồi quy ngưỡng (Threshold Regression - TR): Nhằm xác định giá trị ngưỡng lạm phát mà tại đó chiều hướng tác động của hội nhập tài chính và hội nhập thương mại đến tăng trưởng kinh tế có sự thay đổi.
- Phương pháp tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến (NARDL): Do Shin và cộng sự (2014) đề xuất, phân rã chuỗi tiêu thụ năng lượng thành các biến tích lũy cú sốc dương ($EC^+$, $OC^+$) và cú sốc âm ($EC^-$, $OC^-$) để đo lường phản ứng bất đối xứng của tăng trưởng kinh tế.
- Kiểm định mối quan hệ nhân quả Toda và Yamamoto (1995): Kiểm định nhân quả Granger hiệu chỉnh dựa trên mô hình tự hồi quy vectơ (VAR) với bậc trễ mở rộng $(k + d_{max})$, khắc phục hạn chế về bậc tích hợp của chuỗi thời gian.
- Các kiểm định chẩn đoán khuyết tật: Kiểm định tự tương quan Breusch-Godfrey LM, kiểm định phương sai sai số thay đổi White/ARCH, kiểm định phân phối chuẩn Jarque-Bera, và kiểm định độ ổn định của các hệ số hồi quy theo thời gian bằng kỹ thuật tổng tích lũy phần dư CUSUM và CUSUMSQ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan đề tài
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án. Tác giả phân tích bối cảnh phát triển của Việt Nam kể từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới năm 1986. Trước năm 1995, tình trạng thiếu điện cục bộ diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và sinh hoạt. Ngày 27/5/1994, đường dây 500 kV Bắc – Nam chính thức vận hành, tạo bước chuyển biến lớn: giai đoạn 1990–1992 tốc độ tăng trưởng ngành điện chỉ đạt 5–6%, đến giai đoạn 1995–1997 đã tăng lên 18–19%; tốc độ tăng trưởng GDP cũng tăng tương ứng từ 5,1% đầu thập niên 1990 lên 9,5% sau năm 1995. Đến năm 2016, sản lượng điện phục vụ công nghiệp chiếm tỷ trọng 52%, tốc độ gia tăng nhu cầu điện hàng năm duy trì ở mức khoảng 17%.
Về mặt hội nhập, tính đến tháng 12/2018, Việt Nam đã thu hút vốn đầu tư từ 126 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương, đồng thời đang trong tiến trình đàm phán 4 hiệp định lớn gồm EVFTA và CPTPP. Từ thực tiễn đó, chương này định hình 3 mục tiêu nghiên cứu, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu vĩ mô, ý nghĩa học thuật, thực tiễn và cấu trúc 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa hội nhập, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế
Chương 2 làm rõ các cơ sở lý thuyết kinh tế học vĩ mô và thương mại quốc tế:
- Hệ thống hóa các lý thuyết tăng trưởng từ cổ điển (Adam Smith, David Ricardo, Karl Marx), ngoại sinh (Solow, 1956) đến nội sinh (Arrow, 1962; Romer, 1989, 1990; Barro và Sala-i-Martin, 1995).
- Trình bày lý thuyết di chuyển vốn quốc tế của McDougall (1961), lý thuyết lưu chuyển hàng hóa của Ricardo và Gandolfo (2014), cùng mô hình hai kênh tác động (quy mô và phân bổ nguồn lực) của Bretschger và Steger (2004).
- Phân tích ba kênh tác động của đô thị hóa theo Brueckner (2011).
- Chuẩn hóa các phương pháp đo lường: 3 phương thức tính toán tăng trưởng kinh tế theo Thirlwall (1994); 3 phương thức đo lường hội nhập kinh tế gồm chỉ số toàn cầu hóa KOF của Dreher (2006), hội nhập tài chính theo công thức dòng vốn vào ra của Edison và cộng sự (2002), và độ mở thương mại hàng hóa theo Proudman và cộng sự (1998); đo lường tiêu thụ năng lượng theo mức bình quân đầu người theo Omri (2014).
- Điểm luận chi tiết các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về toàn cầu hóa, hội nhập tài chính, hội nhập thương mại và bốn giả thuyết tiêu thụ năng lượng (Omri, 2014).
- Xác lập 6 khoảng trống nghiên cứu và xây dựng hệ thống các giả thuyết kiểm định về tác động của hội nhập có ngưỡng lạm phát điều tiết, tác động có gãy cấu trúc và tính bất đối xứng của tiêu thụ năng lượng.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu chi tiết gồm 8 bước từ thu thập dữ liệu, làm sạch, kiểm định tính dừng đến ước lượng mô hình và kiểm định sau ước lượng. Tác giả thiết lập ba mô hình thực nghiệm:
- Mô hình 1 (Hội nhập kinh tế và tăng trưởng): Thiết lập hàm hồi quy dạng ARDL và mô hình hồi quy ngưỡng TR với biến phụ thuộc là tăng trưởng kinh tế, các biến độc lập gồm chỉ số toàn cầu hóa ($KOF$), hội nhập tài chính ($IFI$), hội nhập thương mại ($OPEN$), với biến ngưỡng và biến kiểm soát là tỷ lệ lạm phát ($INF$) cùng tỷ lệ đô thị hóa ($URB$).
- Mô hình 2 (Tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng): Thiết lập mô hình ARDL tuyến tính và mô hình NARDL phi tuyến với biến phụ thuộc là tăng trưởng kinh tế, các biến độc lập là tiêu thụ điện bình quân ($EC$) và tiêu thụ xăng dầu bình quân ($OC$). Chuỗi $EC$ và $OC$ được phân tách thành các biến tích lũy cú sốc tăng ($EC^+$, $OC^+$) và cú sốc giảm ($EC^-$, $OC^-$).
- Mô hình 3 (Tích hợp hội nhập, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng): Kết hợp đồng thời các biến hội nhập kinh tế và tiêu thụ năng lượng vào hàm sản xuất mở rộng nhằm kiểm tra tính vững của các ước lượng.
Chương này cũng xác định rõ nguồn dữ liệu thứ cấp từ IEA, WB, IMF, UNCTAD và KOF Thụy Sĩ giai đoạn 1971–2018, đồng thời mô tả chi tiết các tiêu chuẩn thống kê dùng để chẩn đoán mô hình (AIC, SBC, CUSUM, CUSUMSQ, kiểm định Wald kiểm tra tính bất đối xứng).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 trình bày toàn bộ số liệu thống kê mô tả, phân tích thực trạng và kết quả ước lượng thực nghiệm:
-
Thực trạng kinh tế Việt Nam: Trình bày số liệu FDI giai đoạn 1988–2018 phân theo đối tác, địa phương, hình thức đầu tư và ngành nghề; giá trị xuất nhập khẩu và diễn biến độ mở thương mại; sản lượng điện thương phẩm, cơ cấu tiêu thụ điện theo ngành (công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất), điện bình quân đầu người, tỷ lệ tổn thất điện năng và mức tiêu thụ xăng dầu bình quân đầu người; diễn biến tăng trưởng GDP từ 1986 đến 2018.
-
Kết quả mô hình tác động của hội nhập kinh tế đến tăng trưởng (Bảng 4.8 – Bảng 4.23):
- Kiểm định tính dừng khẳng định các biến dừng ở bậc $I(0)$ hoặc $I(1)$. Kiểm định Bounds test và kiểm định đồng liên kết có điểm gãy cấu trúc xác nhận tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến số.
- Toàn cầu hóa ($KOF$) có tác động tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn.
- Ước lượng hồi quy ngưỡng (Bảng 4.9 – Bảng 4.11) xác định ngưỡng lạm phát của nền kinh tế Việt Nam nằm trong khoảng $[8,84% - 10,93%]$. Khi lạm phát duy trì dưới ngưỡng này, hội nhập tài chính và hội nhập thương mại đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Khi lạm phát vượt ngưỡng này, tác động tích cực bị suy giảm hoặc đảo chiều thành tác động tiêu cực.
- Kiểm định nhân quả Toda và Yamamoto (Bảng 4.23) xác nhận mối quan hệ nhân quả từ hội nhập đến tăng trưởng kinh tế.
-
Kết quả mô hình tác động của tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng (Bảng 4.24 – Bảng 4.37):
- Kiểm định đồng liên kết có điểm gãy cấu trúc (Bảng 4.28) chỉ ra điểm gãy cấu trúc vào năm 1995.
- Ước lượng tuyến tính ARDL (Bảng 4.29 – Bảng 4.32) cho thấy tiêu thụ điện tác động dương đến tăng trưởng trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, đóng góp của tiêu thụ điện vào tăng trưởng giai đoạn 1995–2017 thấp hơn giai đoạn 1971–1994.
- Ước lượng NARDL phi tuyến (Bảng 4.34 – Bảng 4.36) chứng minh tác động dài hạn của tiêu thụ điện và tiêu thụ xăng dầu mang tính bất đối xứng rõ rệt. Đối với xăng dầu, việc gia tăng tiêu thụ xăng dầu ($OC^+$) có hệ số tác động đến tăng trưởng kinh tế mạnh hơn độ lớn tác động của việc cắt giảm tiêu thụ xăng dầu ($OC^-$).
- Kiểm định Toda và Yamamoto (Bảng 4.37) ủng hộ giả thuyết tăng trưởng (Growth hypothesis), khẳng định năng lượng là động lực thúc đẩy tăng trưởng tại Việt Nam.
-
Kết quả mô hình tích hợp (Bảng 4.38 – Bảng 4.45):
- Mô hình tích hợp cả hội nhập và tiêu thụ năng lượng (Bảng 4.42, Bảng 4.43) khẳng định tính bền vững của các kết luận: hội nhập kinh tế và tiêu thụ năng lượng đồng thời giữ vai trò hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
- Các kiểm định CUSUM và CUSUMSQ (Hình 4.14) nằm trong dải giới hạn ý nghĩa 5%, xác nhận tính ổn định của các tham số mô hình. Kiểm định Toda và Yamamoto (Bảng 4.45) tái khẳng định chiều tác động nhân quả từ các biến độc lập đến tăng trưởng.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả thực nghiệm ở Chương 4 và xây dựng hệ thống khuyến nghị chính sách:
- Cung cấp cơ sở khoa học để cơ quan quản lý nhà nước điều hành chính sách vĩ mô, kiểm soát lạm phát dưới ngưỡng an toàn nhằm tối ưu hóa lợi ích từ hội nhập thương mại và tài chính.
- Định hình quy hoạch phát triển ngành điện và xăng dầu, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
- Nêu rõ các giới hạn nghiên cứu về mặt số liệu và gợi mở hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
- Khẳng định tính có điều kiện của hội nhập kinh tế và xác định ngưỡng lạm phát thực nghiệm: Luận án chứng minh hội nhập kinh tế (toàn cầu hóa, hội nhập tài chính, hội nhập thương mại) có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nhưng tác động này không phải là vô điều kiện. Luận án đóng góp mới cho lý thuyết thực nghiệm khi xác định được ngưỡng lạm phát của Việt Nam dao động trong biên độ $[8,84% - 10,93%]$. Đây là ngưỡng điều kiện then chốt: hội nhập tài chính và thương mại chỉ phát huy tác động tích cực thúc đẩy tăng trưởng khi lạm phát được kiềm chế dưới ngưỡng này; nếu lạm phát vượt ngưỡng, các tác động tiêu cực sẽ lấn át.
- Phát hiện điểm gãy cấu trúc và tính bất đối xứng trong tiêu thụ điện: Luận án chỉ ra sự tồn tại của điểm gãy cấu trúc năm 1995 (gắn liền với việc đưa vào vận hành đường dây 500 kV Bắc – Nam). Kết quả chứng minh mức độ đóng góp của tiêu thụ điện vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1995–2017 thấp hơn so với giai đoạn 1971–1994, phản ánh sự thay đổi về hiệu quả sử dụng năng lượng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đồng thời, tác động dài hạn của tiêu thụ điện đến tăng trưởng mang tính phi tuyến và bất đối xứng.
- Phát hiện tính bất đối xứng trong tác động của tiêu thụ xăng dầu: Bằng mô hình NARDL, luận án chứng minh tác động của tiêu thụ xăng dầu đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn là bất đối xứng. Độ lớn tác động của việc gia tăng tiêu thụ xăng dầu đến tăng trưởng kinh tế mạnh hơn đáng kể so với độ lớn tác động khi sụt giảm tiêu thụ xăng dầu.
- Phân tích đồng thời đa chiều: Luận án là công trình thực nghiệm kết hợp phân tích đồng thời cả ba dạng hội nhập kinh tế (toàn cầu hóa, tài chính, thương mại) và hai dạng năng lượng đại diện (điện, xăng dầu) trên cùng một chuỗi thời gian dài của Việt Nam, cung cấp bức tranh tổng hợp thay vì các phân tích tách rời.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát: Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan điều hành chính sách vĩ mô cần chủ động kiểm soát lạm phát mục tiêu duy trì dưới mức $8,84%$, nhằm tạo môi trường an toàn để hội nhập tài chính và thương mại phát huy tối đa hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng.
- Hoạch định chiến lược an ninh năng lượng: Tiếp tục bảo đảm tốc độ đầu tư phát triển nguồn và lưới điện tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tránh để xảy ra tình trạng thiếu hụt điện làm tổn thương khu vực sản xuất công nghiệp.
- Quản lý sử dụng xăng dầu linh hoạt: Do tác động của gia tăng tiêu thụ xăng dầu lớn hơn so với tác động khi giảm tiêu thụ, chính sách năng lượng cần có các kịch bản dự trữ quốc gia và bình ổn giá xăng dầu chủ động để nền kinh tế không bị sốc trước các biến động giá nhiên liệu thế giới.
- Chuyển giao công nghệ và tiết kiệm năng lượng: Tận dụng dòng vốn FDI và liên kết thương mại để thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tiếp nhận công nghệ sản xuất hiện đại, ít tiêu hao năng lượng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ theo những nội dung được tác giả công bố trong văn bản, luận án tồn tại một số hạn chế cụ thể như sau:
- Về phạm vi năng lượng: Luận án chỉ sử dụng hai biến đại diện là tiêu thụ điện bình quân đầu người và tiêu thụ xăng dầu bình quân đầu người, chưa đưa vào phân tích các dạng năng lượng khác như năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời), năng lượng hạt nhân hoặc than đá.
- Về phạm vi thương mại: Biến số độ mở thương mại mới chỉ phản ánh giá trị xuất nhập khẩu của hàng hóa (Trade in goods), chưa bao gồm giá trị xuất nhập khẩu của dịch vụ (Trade in service) do hạn chế về tính đồng bộ của chuỗi dữ liệu trong quá khứ.
- Về cấp độ phân tích: Nghiên cứu được thực hiện ở cấp độ vĩ mô toàn quốc, chưa đi sâu phân tích tác động theo từng ngành kinh tế cụ thể hoặc phân tách theo cấp độ vùng kinh tế, tỉnh, thành phố.
Từ các hạn chế trên, hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở bao gồm: mở rộng nghiên cứu sang các nguồn năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; thu thập dữ liệu về thương mại dịch vụ; và áp dụng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng cho các ngành công nghiệp hoặc các địa phương tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về ngưỡng lạm phát $[8,84% - 10,93%]$ hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ; cung cấp căn cứ dự báo nhu cầu phụ tải điện và xăng dầu cho Bộ Công Thương trong quá trình xây dựng quy hoạch điện và chiến lược an ninh năng lượng quốc gia.
- Cộng đồng doanh nghiệp: Cung cấp thông tin tổng hợp về thực trạng cung ứng năng lượng, tổn thất truyền tải điện và các cam kết từ các hiệp định thương mại tự do (EVFTA, CPTPP), giúp doanh nghiệp định hướng lựa chọn công nghệ sản xuất tiết kiệm năng lượng và xây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng với quá trình mở cửa thị trường.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chương 2 và Chương 3 là tài liệu tham khảo giá trị về cách hệ thống hóa lý thuyết kinh tế học vĩ mô, kỹ thuật xây dựng mô hình chuỗi thời gian ARDL, NARDL, hồi quy ngưỡng TR và quy trình kiểm định đồng liên kết có điểm gãy cấu trúc trong nghiên cứu kinh tế ứng dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định ngưỡng lạm phát làm đảo chiều tác động của hội nhập kinh tế tại Việt Nam là bao nhiêu?
Theo kết quả ước lượng từ mô hình hồi quy ngưỡng (Bảng 4.9 – Bảng 4.11), ngưỡng lạm phát của nền kinh tế Việt Nam dao động trong khoảng $[8,84% - 10,93%]$. Khi lạm phát duy trì dưới ngưỡng này, hội nhập tài chính và thương mại phát huy tác động tích cực đến tăng trưởng; khi lạm phát vượt ngưỡng, các tác động tích cực này bị suy giảm hoặc đảo chiều thành tác động tiêu cực.
2. Sự kiện năm 1995 tác động như thế nào đến mối quan hệ giữa tiêu thụ điện và tăng trưởng kinh tế trong luận án?
Năm 1995 ghi nhận mốc vận hành đường dây 500 kV Bắc – Nam (khởi đầu từ ngày 27/5/1994) và các bước chuyển biến lớn về đối ngoại. Kiểm định đồng liên kết có điểm gãy cấu trúc xác định năm 1995 là điểm gãy cấu trúc của chuỗi dữ liệu. Kết quả thực nghiệm cho thấy mức đóng góp của tiêu thụ điện vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn sau năm 1995 thấp hơn giai đoạn trước năm 1995 (1971–1994).
3. Tính chất bất đối xứng của tiêu thụ xăng dầu đối với tăng trưởng kinh tế được phát hiện ra sao?
Bằng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến NARDL (Bảng 4.36), luận án tìm thấy bằng chứng thống kê khẳng định tác động dài hạn của tiêu thụ xăng dầu đến tăng trưởng là bất đối xứng. Cụ thể, việc tăng tiêu thụ xăng dầu ($OC^+$) có mức độ tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh hơn so với độ lớn tác động kìm hãm khi giảm tiêu thụ xăng dầu ($OC^-$).
4. Hội nhập tài chính và hội nhập thương mại được đo lường bằng công thức cụ thể nào trong luận án?
Hội nhập tài chính ($IFI$) được đo lường theo công thức của Edison và cộng sự (2002) bằng tỷ lệ tổng dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào - ra trên GDP: $[FDI_{in} + FDI_{out} + FII_{in} + FII_{out}] / GDP$. Hội nhập thương mại ($OPEN$) được đo lường bằng độ mở thương mại hàng hóa: $[Xuất\ khẩu + Nhập\ khẩu] \times 100% / GDP$ dựa trên dữ liệu thương mại hàng hóa (Trade in goods), loại trừ dịch vụ.
5. Kết quả kiểm định nhân quả Toda và Yamamoto trong luận án ủng hộ giả thuyết nào về mối quan hệ giữa năng lượng và tăng trưởng?
Kết quả kiểm định nhân quả theo kỹ thuật Toda và Yamamoto (1995) trong Chương 4 khẳng định mối quan hệ nhân quả một chiều từ tiêu thụ năng lượng (cả điện và xăng dầu) đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả này ủng hộ giả thuyết tăng trưởng (Growth hypothesis), khẳng định cung ứng năng lượng đóng vai trò là động lực đầu vào quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Hoàng Ngọc đã phân tích định lượng toàn diện mối quan hệ giữa ba khía cạnh hội nhập kinh tế, hai dạng tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1971–2018. Bằng các phương pháp ARDL, NARDL, hồi quy ngưỡng TR và kiểm định nhân quả Toda – Yamamoto, công trình đã xác lập ngưỡng lạm phát vĩ mô $[8,84% - 10,93%]$, chứng minh tính bất đối xứng trong tiêu thụ điện và xăng dầu, cũng như xác định điểm gãy cấu trúc tại mốc thời gian năm 1995. Các phát hiện thực nghiệm này cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho việc điều hành ổn định kinh tế vĩ mô và xây dựng chiến lược quy hoạch an ninh năng lượng quốc gia trong giai đoạn phát triển tiếp theo.