Thực trạng và giải pháp xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Chuyên khảo phân tích Microsoft word 112634, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

85
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM

1.1. Quá trình phát triển ngành thủy sản

1.1.1. Giai đoạn 1954 – 1960

1.1.2. Giai đoạn 1960 – 1980

1.1.3. Giai đoạn 1981 đến nay

1.2. Vị trí-vai trò của ngành thủy sản trong nền Kinh tế quốc dân

1.2.1. Ngành thủy sản cung cấp những sản phẩm, thực phẩm quý cho tiêu dùng của dân cư và cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác

1.2.2. Ngành thủy sản phát triển sẽ có đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp nói chung

1.2.3. Ngành thủy tham gia vào xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người dân

1.2.4. Phát triển ngành thủy sản góp phần phát triển vào kinh tế xã hội của đất nước

1.2.5. Ngành Thuỷ sản còn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, ổn định xã hội và phát triển kinh tế các vùng ven biển, hải đảo

1.3. Lợi thế của Việt Nam trong sản xuất - xuất khẩu thủy sản

1.3.1. Điều kiện tự nhiên thuận lợi

2. CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

3. CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

Trích đoạn nội dung tài liệu

Luận văn Đề tài “Thực trạng và Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính tất yếu Ngành thủy sản là một ngành kinh tế quan trọng đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp thực phẩm cho con người. Đối với Việt Nam đây được coi là ngành kinh tế chiến lược của đất nước, ngành đã có nhiều đóng góp to lớn trong lĩnh vực xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động và góp phần đáng kể trong việc tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO để đảm bảo cho ngành thủy sản hội nhập với nền kinh tế thế giới thì Đảng và Nhà Nước đã có chương trình, chính sách hỗ trợ lớn cho việc chuyển đổi, phát triển ngành thủy sản. Ngành đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu. Đến nay trung bình mỗi năm ngành thủy sản đóng góp khoảng 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước và là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất. Với tốc độ tăng trưởng ổn định, cơ cấu mặt hàng đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao, quy mô không ngừng mở rộng ngành thủy sản đã và đang khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân. Trong điều kiện tự do hóa thương mại đang diễn ra mạnh mẽ thì Đảng và Nhà Nước chú trọng phát triển ngành thủy sản là điều tất yếu. Mặt hàng thủy sản của Việt Nam đã xuất hiện trên 160 quốc gia, các sản phẩm thủy sản của Việt Nam đang được ưa chuộng trên thị trường thế giới. Sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên của WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ra thế giới, đồng thời kèm theo những khó khăn mà ngành thủy sản Việt Nam phải đối mặt trong quá trình hội nhập kinh tế. Đứng trước những thời cơ và thách thức đó, vấn đề nâng cao khả năng cạnh Tranh hàng thủy sản của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, mà cụ thể là nâng cao chất lượng các mặt hàng thủy sản, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là điều rất quan trọng. Vì vậy em đã chọn đề tài “Thực trạng và Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” nhằm nghiên cứu hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tìm ra những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân gây ra, từ đó đưa ra giải pháp hữu ích nhằm khắc phục những khó khăn, thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng thủy sản, thực hiện phát triển thủy sản theo hướng bền vững trong bối cảnh hội nhập Kinh tế quốc tế. Trong quá trình nghiên cứu để tài em đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Th.sỹ Nguyễn Thị Thúy Hồng, do kiến thức còn có hạn nên bài nghiên cứu 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của em còn nhiều thiếu sót, em xin chân thành cảm ơn cô đã giúp đỡ em hoàn thành bài nghiên cứu! 2. Mục đích nghiên cứu. Nhằm hiểu rõ tình hình sản xuất-xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang các thị trường trong thời gian qua, sử dụng đúng các thông tin, số liệu để từ đó phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu ngành thủy sản, làm rõ những nguyên nhân gây ra hạn chế, định hướng và đề xuất các giải pháp và để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt hàng này trong giai đoạn tới nhằm thực hiện các mục tiêu của ngành trước tiến trình hội nhập KTQT và phát triển bền vững ngành thủy sản. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là hoạt động kinh doanh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO (11/2006) tới nay. Đây là dấu mốc quan trọng với nền kinh tế Việt Nam đặc biệt là với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, ngành thủy sản đã có nhiều biến chuyển trong giai đoạn này đồng thời cũng là ngành được Nhà Nước đặc biệt quan tâm với nhiều lợi thế có sẵn. Phương pháp nghiên cứu. Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài đề ra bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp: lịch sử, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh.Bên cạnh đó bài nghiên cứu còn tham khảo các bài viết của các tạp chí, báo điện tử, các sách, luận văn và bài viết của các cá nhân có liên quan tới hoạt động xuât khẩu thủy sản và vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học để làm sâu sắc hơn nội dung nghiên cứu 5. Kết cấu đề tài; Đề tài gồm 86 Trang, 14 biểu đồ, 8bảng, 1 sơ đồ, lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, đề tài được kết cấu thành 3 chương: - Chương 1 : Lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam - Chương 2 : Thực trạng hoạt động xuất khẩu thủy sản của Viêt Nam trong thời kỳ hội nhập - Chương 3 : Định hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT WTO: “Word trade organization”- Tổ chức thương mại thế giới CNH: Công nghiệp hóa HĐH: Hiện đại hóa GDP: “Gross Domestic Product”-Tổng sản phẩm quốc nội FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới HACCP: “Hazard Analysis and Critical Control Points”- Điểm kiểm soát trọng yếu và phân tích mối nguy" VJEPA: hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản BNN&PTNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn WWF:Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên DOC: ICCAT: Ủy ban quốc tế về bảo tồn cá Ngừ vây xanh Đại Tây Dương BRC: Hiệp hội Bán lẻ Anh VASEP: Hiệp hội chế biến thủy sản Việt Nam IUU: Quy định về nguồn gốc xuất xứ của EU 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM 1.1 Quá trình phát triển ngành thủy sản Nghề cá Việt Nam đã ra đời từ rất sớm nhưng hoạt động nghề cá chỉ được coi như một nghề phụ trong sản xuất nông nghiệp. Đến trước năm 1950, nghề cá vẫn mang đậm dấu ấn của một loại hình hoạt động kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, trình độ sản xuất còn lạc hậu, mang tính chất thủ công. Từ sau những năm 1950, đánh giá được vị trí quan trọng và sự đóng góp mà nghề cá có thể mang lại cho nền kinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu quan tâm phát triển nghề cá đồng thời hình thành các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đánh dấu một cách nhìn nhận mới đối với nghề cá. Từ đó, ngành Thuỷ sản đã dần hình thành và phát triển như một ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò và đóng góp ngày càng lớn cho đất nước. Quá trình phát triển ngành thủy sản có thể phân chia một cách tương đối thành 3 giai đoạn chính: 1. Giai đoạn 1954 – 1960 Đây là giai đoạn kinh tế thuỷ sản bắt đầu được chăm lo phát triển để manh nha thành một ngành kinh tế kỹ thuật. Thời kỳ này kinh tế ở miền Bắc bắt đầu khôi phục và phát triển cùng với sự giúp đỡ của các nước XHCN, các tổ chức nghề cá công nghiệp như: các tập đoàn đánh cá với đoàn tàu đánh cá Hạ Long, Việt - Đức, Việt - Trung, nhà máy cá hộp Hạ Long được hình thành. Đặc biệt, phong trào hợp tác hoá được triển khai rộng khắp trong nghề cá. Giai đoạn 1960 – 1980 Đây được coi là thời kỳ khởi đầu của ngành thủy sản Việt Nam. Trong giai đoạn này ngành Thuỷ sản có những thời kỳ phát triển khác nhau gắn với diễn biến của lịch sử đất nước: - Từ năm 1960 – 1975: là thời điểm ra đời của ngành Thủy sản Việt Nam như một chỉnh thể ngành kinh tế - kỹ thuật của đất nước với sự ra đời của Tổng cục thủy sản. Tuy nhiên, đây là giai đoạn đất nước có chiến Tranh, cán bộ và ngư dân ngành thuỷ sản “vững tay lưới, chắc tay súng”, hăng hái thi đua lao động sản xuất với tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, cùng cả nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Xây dựng CNXH ở miền Bắc và đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam”. Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển có công sức lớn của ngư dân. - Từ năm 1976 – 1980, đất nước thống nhất, ngành Thủy sản bước sang thời kỳ phát triển mới trên phạm vi cả nước. Tầm cao mới của ngành được đánh dấu bằng việc thành lập Bộ Hải sản năm 1976. Thực hiện 10 năm Di chúc Bác Hồ, ngành đã phát động thành công phong trào “Ao cá Bác Hồ” rộng khắp trong cả nước, đem lại tác dụng rất lớn. Do hậu quả nặng nề của chiến Tranh, nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn phục hồi. Mặt khác, cơ chế quản lý lúc này chưa phù hợp, tiêu thụ theo cách giao nộp sản phẩm, đánh giá kết quả theo khối lượng hàng hoá, không chú trọng giá trị sản phẩm. Điều này đã làm giảm động lực thúc đẩy sản xuất thủy sản làm cho kinh tế thủy sản sa sút nghiêm trọng vào cuối những năm 1970. Giai đoạn 1981 đến nay Giai đoạn này được coi là thời kỳ tích lỹ và xây dưng. Năm 1981, Bộ Hải sản được tổ chức lại thành Bộ Thủy sản, ngành Thủy sản bước vào giai đoạn phát triển toàn diện cả về khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ, chế biến và xuất khẩu, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất, mở rộng hợp tác quốc tế để giữ vững nhịp độ tăng trưởng. Trước những khó khăn, thách thức sau thời kỳ sa sút, sự ra đời của Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Seaprdex Việt Nam, được Nhà nước cho phép áp dụng thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trạng trải”, mà thực chất là chú trọng nâng cao giá trị của sản phẩm làm ra nhằm tạo nguồn đầu tư để tái sản xuất mở rộng, đã tạo nguồn động lực mới cho sự phát triển. Ngành thuỷ sản có thể được coi là một ngành đi tiên phong trong quá trình đổi mới, chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ