CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ VÀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA MỤC TIÊU CHƯƠNG Sau khi học xong chương này, sinh viên có thể: – Hiểu được nguyên nhân hình thành thị trường TCQT, các bộ phận cấu thành và đặc điểm của thị trường tài chính quốc tế; – Vận dụng các kiến thức được cung cấp trên thị trường ngoại hối trong việc lựa chọn và tính toán các loại tỷ giá trên thị trường; – Phân biệt được đặc điểm của một công ty đa quốc gia với một công ty nội địa và phân tích động cơ các công ty đa quốc gia tham gia vào thị trường TCQT. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ 1. Khái niệm về tài chính quốc tế Để hiểu khái niệm về tài chính quốc tế trước hết chúng ta cùng xem lại khái niệm về tài chính. Theo Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ của GS.TS Dương Thị Bình Minh thì tài chính là “hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội”.
Từ khái niệm này ta có thể phân tích chi tiết hơn ở giác độ chủ thể của các quan hệ kinh tế và phạm vi của các quan hệ kinh tế. Về chủ thể của các quan hệ kinh tế, nếu chủ thể của các quan hệ kinh tế là chính phủ, lúc này chúng ta gọi đây là tài chính công (Public finance). Ví dụ: để hình thành ngân sách của chính phủ, chính phủ sẽ ban hành và thực thi chính sách thuế. Nguồn ngân sách này chính phủ sẽ chi tiêu cho vận hành bộ máy của chính phủ như trả lương cho công chức hoặc chi để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế như chi phát triển cơ sở hạ tầng: đường xá, cảng biển, cảng hàng không… Nếu chủ thể của các quan hệ kinh tế là một công ty, lúc này chúng ta gọi đây là tài chính công ty (Corporate finance).
Ví dụ: một công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu (liên quan đến tạo lập quỹ trong công ty) để mở rộng qui mô sản xuất (liên quan đến sử dụng quỹ trong công ty); doanh thu có được qua tiêu thụ sản phẩm, công ty dùng trả lương nhân viên, nộp thuế cho chính phủ, phần còn lại chi trả cổ tức cho các cổ đông… Về phạm vi của quan hệ kinh tế, nếu các quan hệ kinh tế phát sinh trong phạm vi một quốc gia thì ta gọi là tài chính nội địa. Ví dụ: chính phủ một quốc gia phát hành trái phiếu trong nước để huy động vốn thực hiện xây dựng sân bay hoặc công ty cổ phần phát hành cổ phiếu trong nước nhằm huy động vốn thực hiện một dự án mới… Nếu các quan hệ kinh tế phát sinh ở phạm vi vượt ra một quốc gia thì ta gọi đây là tài chính quốc tế. Ví dụ: Ấn độ là quốc gia nhận dược kiều hối lớn nhất năm 2018 với gần 80 tỷ USD; 14 hay chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế trên thị trường chứng khoán New York để huy động 750 triệu USD năm 2005. Samsung - một công ty đa quốc gia của Hàn Quốc chuyển tiền vào Việt Nam thành lập nhà máy sản xuất máy tính bảng lớn nhất Đông Nam Á vào tháng 4-2009.
Samsung được hưởng chính sách ưu đãi đối với công ty công nghệ cao (thuế thu nhập công ty 10%, miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo) nên Samsung Bắc Ninh bắt đầu nộp thuế thu nhập công ty từ năm 2013. Năm 2017, doanh thu của Samsung Việt Nam đạt 60 tỷ USD, xuất khẩu ra thị trường 52 nước và vùng lãnh thổ với kim ngạch 50 tỷ USD, chiếm gần 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam… Rõ ràng, trong tài chính quốc tế, các quan hệ kinh tế vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia và là các quan hệ kinh tế đan xen giữa chính phủ với chính phủ hoặc giữa chính phủ với các công ty đa quốc gia, giữa các công ty đa quốc gia với nhau, giữa người dân trong nước và người dân ở nước ngoài… Theo thời gian, để tạo thuận lợi phát triển các giao dịch quốc tế đã dần hình thành các tổ chức quốc tế đa phương hoặc khu vực như Tổ chức thương mại thế giới WTO, Liên minh Châu Âu EU, ASEAN… vì vậy các quan hệ kinh tế không đơn giản giữa từng chính phủ với nhau nữa mà là quan hệ kinh tế phức tạp giữa chính phủ với các tổ chức quốc tế… Các quan hệ kinh tế đan xen xuyên quốc gia và đa quốc gia trên đây đã hình thành nên thị trường tài chính quốc tế sôi động, tạo điều kiện phát triển kinh tế từng quốc gia cũng như kinh tế toàn cầu. Từ các phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm tài chính quốc tế như sau: Tài chính quốc tế là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh giữa chính phủ hoặc các tổ chức (chính phủ hay phi chính phủ) với các chính phủ khác, các tổ chức (của chính phủ hay phi chính phủ) khác, giữa các công ty đa quốc gia với các tổ chức quốc tế gắn liền với sự dịch chuyển hàng hóa và dòng vốn trên thế giới theo những nguyên tắc nhất định. Chính sự phức tạp của các quan hệ kinh tế trong tài chính quốc tế mà tài chính quốc tế có thể chia ra làm hai lĩnh vực chính: tài chính quốc tế vĩ mô và tài chính quốc tế vi mô.
Tài chính quốc tế vĩ mô đề cập đến thị trường tài chính quốc tế, các lý thuyết cân bằng trên thị trường tài chính quốc tế, các hành vi tỷ giá hối đoái của chính phủ… Tài chính quốc tế vi mô đề cập đến quản trị tài chính trong công ty đa quốc gia như các quyết định về cấu trúc vốn, quyết định về hoạch định ngân sách vốn của công ty đa quốc gia. Nguyên nhân hành thành thị trường tài chính quốc tế 1. Những nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển khách quan Nguyên nhân xuất phát từ thực tiễn khách quan các cơ chế kinh tế của các quốc gia Trên thế giới, hầu hết các quốc gia ở một trong hai trạng thái nền kinh tế đối lập nhau như sau: • Nền kinh tế đóng cửa: là nền kinh tế không có hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, không có sự luân chuyển vốn giữa các quốc gia. Quốc gia tự thỏa mãn các nhu cầu trong nước bằng nguồn lực trong nước là chủ yếu.
Mục tiêu là chính phủ muốn xây 15 dựng một nền kinh tế tự chủ hoàn toàn dựa trên khả năng trong nước từ đó giảm sự phụ thuộc kinh tế vào bên ngoài. Ưu điểm: – Xây dựng một nền kinh tế tự chủ là nền tảng bảo đảm cho sự độc lập về chính trị. – Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa để thoả mãn nhu cầu trong nước. – Tốc độ phát triển kinh tế ổn định.
Nền kinh tế ít bị ảnh hưởng bởi những biến động xấu (khủng hoảng) của nền kinh tế thế giới. Ví dụ: trường hợp của Việt Nam khi xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, Việt Nam hầu như không bị ảnh hưởng đến nền kinh tế, trong khi đó các quốc gia khác trong khu vực như Thái Lan, Indonesia… đã chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cuộc khủng hoảng này. Đã có một loạt những lý giải tại sao Việt Nam lại không bị ảnh hưởng nhiều, những lý giải đó thiên về tính tích cực như: có hướng chủ động, dự báo trước… nhưng về khía cạnh kinh tế thì bản chất của vấn đề là do nền kinh tế của Việt Nam khi đó còn rất đóng, chưa hội nhập sâu với các nền kinh tế khác trong khu vực. Hội nhập sâu được thể hiện ở quan hệ với các nhà đầu tư trong khu vực, vay vốn của các ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia, quan hệ đầu tư thương mại, công nghệ v.
Những đan xen về kinh tế với các nước trong khu vực của Việt Nam còn thấp ở thời điểm đó, do vậy khi những ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia… bị phá sản thì Việt Nam không có nhiều những khoản vay ở đó. Nếu như bây giờ mà xảy ra cuộc khủng hoảng trong khu vực như vậy thì Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất to lớn vì mức độ hội nhập của Việt Nam hiện giờ cao hơn rất nhiều so với thời điểm đó. Nhược điểm: – Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm. – Nền kinh tế bị tụt hậu so với bên ngoài.
– Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa nhưng không hiệu quả. – Thị trường nội địa nghèo nàn, chật hẹp, giá cả đắt đỏ, hàng hoá kém đa dạng, và người tiêu dùng không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất. Do những bất lợi của nền kinh tế đóng cửa, chính phủ các nước ngày nay có xu hướng thực hiện chính sách mở cửa • Nền kinh tế mở cửa: đó là nền kinh tế chú trọng thiết lập quan hệ ngoại thương với các nước thông qua hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; tăng cường thu hút và sử dụng vốn, công nghệ bên ngoài để khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước. Ưu điểm: – Tốc độ phát triển kinh tế cao và nhanh do có thể kết hợp sử dụng có hiệu quả các yếu tố bên trong và bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.
– Thị trường rộng mở, hàng hoá đa dạng, phong phú có chất lượng và người tiêu dùng có thể thoả mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất. – Tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các công ty, kích thích được sản xuất phát triển. Thực tiễn ở Việt Nam thời gian qua đã chứng minh rằng chiến lược mở cửa nền 16 kinh tế là rất đúng đắn: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn, GDP bình quân đầu người tăng vọt, từ quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình sau hơn 15 năm mở cửa. Nhược điểm: – Nền kinh tế phụ thuộc và chịu tác động gián tiếp hoặc trực tiếp của những cú sốc từ bên ngoài.
Ví dụ: khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam: kim ngạch XNK giảm sút, tốc độ tăng trưởng GDP giảm, dòng vốn đảo chiều trên thị trường chứng khoán… – Tốc độ phát triển kinh tế cao, nhanh nhưng không ổn định. Đây gọi là phát triển kinh tế nóng, tuy cao nhưng nếu có khủng hoảng thì lập tức sụt giảm ngay.