Chương 1 TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN MEN TRONG PHÁP LUẬT THƯƠNG MAI QUOC TE 1. Các công trình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thể giới Giai đoạn trước khi GATT ra đời. Không có nhiều công trình nghiên cứu nổi bật về MEN trong giai đoạn trước Chiến tranh Thế giới thứ hai do MEN chưa được phổ cập trong thương mại quốc tế.
Trên thực tế, ý tưởng xác lập điều khoản MEN trong một hiệp định đa phương từng được nhen nhóm trong quá trình vận động thành lập Hội Quốc liên sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Một số quốc gia chủ trương xây dựng điều khoản MFN trong Bản dự thảo Hiến chương Hội Quốc liên với những nội dung tiến bộ, hướng tới quan hệ quốc tế bình đăng, không phân biệt đối xử. Tuy nhiên, vào thời điểm 1919 ý tưởng này đã không được hiện thực hóa do sự phản đối của một số quốc gia chủ trương áp dụng MEN có đi có lại. Phải tới sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, với sự ra đời của Liên hợp quốc và việc ghi nhận bình đắng, không phân biệt đối xử như một trong những nguyên tắc nền tảng của quan hệ quốc tế, nội dung điều khoản này mới được tiếp thu gần như nguyên vẹn vào GATT 1947[7].
Chỉ từ khi được các nền kinh tế hàng đầu thế giới công nhận là nguyên tắc ứng xử cơ bản trong thương mại, MEN mới phát huy vai trò và trở thành chu đê được các hoc giả quôc tê quan tâm. Giai giai đoạn từ khi thành lập GATT tới khi Tổ chức Thương mại Thể giới (WTO) ra đời (1995). Các công trình nghiên cứu sâu sắc, có quy mô về MEN va vai trò của nó được thực hiện chủ yếu trong giai đoạn sau khi GATT ra đời và MEN từng bước được phổ cập trong thương mại quốc tế. Các công trình này đã tạo cơ sở lý luận cho việc quảng bá và vận dụng MEN vào thực tiễn thương mại quốc tế.
Các nghiên cứu quan trọng tập trung vào lịch sử hình thành, nội dung pháp lý, các nguyên tắc áp dụng và ý nghĩa của MEN trong thương mại. Bên cạnh đó, các học gia cũng có nhiêu công trình nghiên cứu phân tích các yêu tô nội hàm của MEN đê 15 làm cơ sở áp dụng vào thực tiễn thương mại quốc tế cũng như đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật về MFN. Trước khi WTO ra đời, điều khoản MEN trong GATT chỉ điều chỉnh thương mại hàng hóa. Các quy định đầu tư, thương mại dịch vụ và các khía cạnh đầu tư liên quan tới thương mại mới chỉ đang trong quá trình đàm phán.
Do đó, các nghiên cứu giai đoạn này chủ yếu liên quan MEN trong thương mại hàng hóa. Đáng lưu ý là trong bối cảnh thế giới phân chia thành hai cực sau chiến tranh, các học giả các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng có nhiều nghiên cứu về van đê này với góc độ khác so với các học giả các nên kinh tê thị trường. Giai đoạn từ sau khi WTO ra đời tới nay, đánh dau bởi những nỗ lực của các thành viên WTO nhăm phát động vòng đàm phán mới và sự bùng nỗ của đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA). Với tham vọng thúc day hơn nữa tự do hóa thương mại và củng cố các khuôn khổ pháp lý của hệ thống thương mai da phương, các thành viên WTO đã phát động Vòng Phát triển Doha.
Chương trình nghị sự của vòng đàm phán Doha rất tham vọng về cả mức độ và phạm vi với nhiều lĩnh vực mới. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu về cả phương diện lý luận và thực tiễn đối với các chủ đề chưa đề cập trong WTO. Đặc biệt là các nội dung được coi nhạy cảm với nhiều thành viên như đầu tư, lao động, môi trường,. Bên cạnh đó, bế tắc trong đàm phán WTO đã tạo thêm xúc tác cho trào lưu đàm phán các thỏa thuận khu vực.
Đặc biệt, các nền kinh tế phát triển hướng tới đàm phán các FTA thế hệ mới với mức độ tự do hóa cao, phạm vi các vấn đề điều chỉnh rộng hơn WTO, nội dung dé cập nhiều van đề chính sách quản lý. Bởi vậy, các nghiên cứu trong giai đoạn này rat da dạng. Liên quan MEN, các nghiên cứu đề cập tới giá trị của điều khoản MEN trong các hiệp định dịch vụ, đầu tư; mỗi tương quan giữa các FTA cùng có điều khoản MEN; những nội dung còn gây tranh cãi của điều khoản MEN:. Trong các công trình nghiên cứu về các van đề thương mại quốc tế nói chung cũng như MEN nói riêng, các nghiên cứu ở nước ngoài về MEN rất phong phú, chuyên sâu, thể hiện quan điểm từ nhiều góc độ.
Ngoài các công trình đề cập tới lịch sử hình thành, ý nghĩa, nội dung pháp lý của MEN còn có các công trình sử dụng các công cụ lượng hóa tác động của MEN tới thương mại. Trong quá trình 16 thực hiện luận án, Nghiên cứu sinh đã tiêp cận các tài liệu của các học giả từ nhiêu quôc gia, đại diện cho nhiêu quan diém tự do hóa thương mại. Trong đó bao gôm một sô công trình nôi bật : “Điều khoản đãi ngộ tối huệ quốc: phân tích có tham chiếu tới biểu thuế va thực tế ký kết điều ước gần đây”? của GS. Richard Calton Sneyder, Đại học Columbia, Hoa Kỳ năm 1948 về lịch sử hình thành và phát triển của MEN tới 1940.
Giáo sư Sneyder là chuyên gia về quan hệ quốc tế với nhiều công trình nghiên cứu nồi tiếng liên quan thương mại quốc tế. Tác phẩm về MEN là nghiên cứu rất công phu, chuyên sâu về sự ra đời hình thức đãi ngộ MEN trong thương mại quốc tế, quá trình hình thành khái niệm pháp lý và thực tiễn áp dụng đãi ngộ này. Nghiên cứu của Sneyder dẫn chiếu nhiều nguồn tư liệu lịch sử để trình bày các hình thức MEN đã tồn tại qua từng giai đoạn. Qua đó có thé thấy vai trò của MEN như một công cụ thực thi các mục đích kinh tế - chính trị của các quốc gia.
Phải tới sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, khi các quốc gia hướng tới thiết lập hệ thống quan hệ quốc tế dựa trên những nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, quyền độc lap, tự chu,. thì không phân biệt đối xử mới được nghi nhận như một nguyên tắc nền tảng trong thương mại quốc tế. Những tư liệu và phân tích của Sneyder được sử dụng va dân chiêu nhiêu trong các tài liệu nghiên cứu vê MEN sau này. Sneyder phân chia các giai đoạn lịch sử phát triển của MEN từ sơ khai tới khi được đa phương hóa vào GATT thành 7 giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất từ thé kỷ XI tới thế ky XVIII thuộc về MEN đơn phương dưới hình thức ơn huệ được ban phát bởi một bên hoặc là nhượng bộ của kẻ yếu cho kẻ mạnh hon mình. Giai đoạn 2, từ cuối thế ky XVIII đến đầu thế ky XIX ghi nhận sự ra đời thuật ngữ MFN và các hình thức trao đổi MEN theo hiệp định. Điều khoản MEN trong các hiệp định ký kết trong giai đoạn này chứa đựng điều khoản MEN vô điều kiện, không phụ thuộc vào nội dung các nhượng bộ mà điều khoản này mang lại cho bên ký kết. Giai đoạn 3 từ 1825 tới 1860, đánh dấu sự áp đảo của MEN có điều kiện.
Sau khi Hoa Kỳ thỏa thuận MEN có điều kiện trong hiệp định với Pháp, quốc gia nay đã áp dụng điều 3 Nguyên tác “The Most Favour Nation Clause: Analysis with Particular Reference to Recent Treaty Practice and Tariffs” (New York, Columbia University, 1948) 17 khoản này trong hầu hết các hiệp định của minh. Giai đoạn 4 từ 1860 tới Chiến tranh Thế giới Thứ nhất là giai đoạn phục hồi MEN vô điều kiện dưới tác động của trào lưu tự do thương mại khởi đầu từ Hiệp định Cobden 1860 giữa Anh và Pháp. Giai đoạn 5 từ 1918 đến 1929 ghi nhận sự tác động của bối cảnh quan hệ quốc tế sau chiến tranh Thế giới thứ nhất tới sự phát triển điều khoản MEN. Pháp hủy các hiệp định có điều khoản MEN trong khi Hoa Kỳ ngừng áp dụng MEN có điều kiện.
Những diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế và tiếp đó là khủng hoảng kinh tế đã làm that bại nỗ lực của Hội Quốc liên phố cập nguyên tắc này trong quan hệ da phương. Giai đoạn 6 từ năm 1929 tới Chiến tranh Thế giới Thứ hai chứng kiến sự khôi phục chủ nghĩa bảo hộ, phân biệt đối xử, chính sách thương mại trả đũa. Hàng loạt các rao cản thương mại được thiết lập: kiểm soát ngoại hối, hạn ngạch nhập khâu, độc quyền thương mại. mặc dầu không quốc gia nào tuyên bố bãi bỏ MEN việc áp dụng các chính sách thương mại thời kỳ đó khiến nguyên tắc này chi tổn tại trên lý thuyết.
Giai đoạn 7 bắt đầu từ 1947 khi Hiệp định GATT ra đời. MEN trở thành nguyên tắc nền tảng của hệ thống thương mại đa phương và đóng góp vào kỷ nguyên mới tự do hóa thương mại. Theo Sneyder, cách thức một quốc gia sử dụng MFN trong quan hệ thương mại với các đối tác tùy thuộc cách tiếp cận của quốc gia đó đối với thương mại quốc tế trong một giai đoạn nhất định. Trong bối cảnh thế giới sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, tự do hóa thương mại sẽ tạo động lực cho khôi phục kinh tế và phát triển, duy trì hòa bình.
Đó là nhận thức tạo tiền đề dé MEN vô điều kiện được ghi nhận vào GATT. Nghiên cứu về “Vai trò của điều khoản MEN trong hệ thống thương mại quốc tế” đo tác giả Akiko Yanai thuộc Trung tâm nghiên cứu APEC thực hiện năm 2002 đã bổ sung cho nghiên cứu của Snyder với việc cập nhật giai đoạn phát triển của MEN từ khi ký kết GATT vào 1947 tới khi WTO được thành lập năm 1995. Qua đó, Akiko khăng định những giá trị quan trọng của MEN đối với tự do hóa 4 Tên Hiệp của hiệp định thương mại tự do ký giữa Anh và Pháp được gọi theo tên của Nghị viên Anh Cobden, người khởi xướng thỏa thuận này. Một số tài liệu gọi là hiệp định Cobden-Chevalier bao gồm cả người khởi xướng thỏa thuận từ phía Pháp.
18 thương mại sau khi MEN trở thành một nguyên tắc nên tang của thương mại quốc tế và được đa phương hóa trong khuôn khổ WTO. Akiko Yanai chọn cách tiếp cận tổng quan hơn về lịch sử phát triển MEN. Akiko xem xét lịch sử phát triển MEN qua 3 giai đoạn. Giai đoạn sơ khai khi MEN ra đời như một đãi ngộ đơn phương, có giới hạn trong phạm vi những ưu đãi cụ thể mà một bên trao cho bên thụ hưởng.