CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Một số khái niệm cơ bản: Với mục đích tìm hiểu về việc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến nay, một số khái niệm sau cần được làm rõ để phục vụ nội dung nghiên cứu: Hội nhập và hội nhập kinh tế là gì? Chính sách và chính sách kinh tế là gì? 1.2 Hội nhập và hội nhập kinh tế quốc tế Khái niệm Hội nhập kinh tế quốc tế Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là “intégration internationale”). Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ trước ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu. Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế”. Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác.
Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế. Có một thực tiễn đáng lưu ý là trước khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử dụng, trong 10 tiếng Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tế” và “nhất thể hóa kinh tế quốc tế”. Cả ba thuật ngữ này thực ra được sử dụng để chỉ cùng một khái niệm mà tiếng Anh gọi là “international economic integration”. Như vậy, cần xác định một cách tiếp cận phù hợp đối với khái niệm “hội nhập kinh tế quốc tế”.
Trong bài viết Hội nhập quốc tế: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, TS. Phạm Quốc Trụ cho rằng: “[h]ội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.” [20] Với cách tiếp cận như vậy về hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta có thể luận rằng hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình mà trong đó, hai hoặc nhiều hơn hai quốc gia trong một khu vực địa lý rộng lớn giảm một chuỗi các hàng rào thương mại để đạt được hoặc bảo vệ một số các lợi ích kinh tế nhất định. Như Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đề cập, hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu là “các quy định nhằm tự do hóa thương mại, dịch vụ, đầu tư như: Giảm thiểu rồi đi tới bãi bỏ các quy định hành chính phi quan thuế; giảm thiểu và đi tới xóa bỏ hàng rào quan thuế; mở cửa thị trường với mức độ và lộ trình khác nhau; hình thành sân chơi bình đẳng cho mọi loại hình doanh nghiệp; xóa bỏ bao cấp đối với hoạt động kinh doanh có liên quan tới thị trường bên ngoài; áp dụng những quy định chung về mua sắm chính phủ, hải quan, bảo vệ tài sản trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn về môi trường sinh thái, lao động, các quy định về tự vệ, chống bán phá giá…” [28] Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế Tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên có cơ hội phát triển kinh tế một cách nhanh chóng. Cơ hội này đến từ chính vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó 11 phải kể tới: mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của quốc gia tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; tăng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế; tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ và giải quyết vấn đề việc làm; hay đóng góp vào công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong nhiều lĩnh vực.
Trong trường hợp cụ thể là Việt Nam, một vai trò nữa của hội nhập kinh tế quốc tế là duy trì hoà bình ổn định, tạo dựng môi trường thuận lợi để Việt Nam xây dựng nền tảng, phát triển năng lực, và thực thi quyền lực mềm. Tuy nhiên, không ít thách thức được đặt ra, như: khả năng của con người, doanh nghiệp, cơ chế nhà nước, cũng như các thể chế, cơ quan chính phủ trong việc thích nghi với môi trường quốc tế cạnh tranh gay gắt mà hội nhập kinh tế quốc tế đem lại.3 Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế Khái niệm Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế là đối với Việt Nam là vô cùng to lớn, song hành với đó là yêu cầu thực tiễn về việc tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế một cách hợp lý, hiệu quả. Để thực hiện điều đó, Chính phủ phải đưa ra và thực hiện các chính sách cụ thể. Nếu như chính sách được hiểu là “các chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể đối với các đối tượng cụ thể nào đó” [27].
Các mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường. Hay nói cách khác, chính sách là công cụ để nhà nước, chính phủ thực hiện các ý định của họ đối với các lĩnh vực mà họ quản lý. Từ đó, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế có thể được hiểu là chương trình hành động hướng đích của nhà nước, nhằm thực hiện việc hợp tác, song phương hoặc đa phương, với các quốc gia trên thế giới để đạt được và bảo vệ các thoả thuận đem lại lợi ích kinh tế của quốc gia đó. 12 Đặc điểm của chính sách hội nhập kinh tế quốc tế Có thể nói rằng, xu hướng tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế chính là việc cùng với sự gia tăng hội nhập kinh tế quốc tế, hàng rào thương mại giữa các thị trường sẽ dần biến mất.
Để nhận diện các chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, việc phân loại chúng dựa theo các đặc trưng mà chúng có là yếu tố quan trọng. Về đặc điểm phạm vi địa lý, có thể chia chính sách hội nhập kinh tế quốc tế theo các hướng: song phương, đa phương, và khu vực. Với chính sách hội nhập kinh tế quốc tế theo khu vực, các quốc gia tham gia vào loại hình chính sách này thường gắn kết với nhau trên nền tảng khu vực địa lý, mà điển hình tiêu biểu và gần gũi nhất đó chính là Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asian Nations – ASEAN), một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Bên cạnh đó, các chính sách hội nhập kinh tế song phương được coi là nội dung cơ bản mà bất kì quốc gia nào cũng thực hiện.
Hội nhập kinh tế quốc tế qua các chính sách song phương là cách hội nhập dựa trên các thỏa thuận chính sách giữa hai quốc gia, mà trong đó, các điều khoản, nội dung được các bên trong thỏa thuận đưa ra, hội ý, chấp thuận và cam kết thực hiện. Điểm mạnh của các chính sách hội nhập kinh tế quốc tế song phương đó là việc trao đổi đàm phán chính sách giữa hai quốc gia sẽ trực tiếp và mất ít thời gian (so với hình thức chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đa phương). Tuy nhiên, điểm yếu của các chính sách song phương đó là các quốc gia nhỏ, yếu thế hơn sẽ gặp nhiều khó khăn khi đàm phán với các nước lớn hơn, do cửa sổ đàm phán của những nước nhỏ sẽ hẹp hơn, dẫn tới việc họ có thể bị các nước lớn gây áp lực, và phải chấp nhận các thỏa thuận không thực sự thuận lợi nhất có thể cho họ. Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đa phương là sản phẩm của chủ nghĩa đa phương.
Theo công trình của Ruggie xuất bản năm 1992, chủ nghĩa 13 đa phương, một cách định lượng, là sự thỏa thuận, chấp thuận của nhóm từ ba thành viên trở lên. Một cách định tính, chủ nghĩa đa phương đề xuất việc các thành viên (cá nhân, quốc gia) ứng xử dựa trên việc tuân thủ các nguyên tắc chung đã được nhất trí, lấy lợi ích tập thể và lâu dài làm mục tiêu mà bỏ qua các lợi ích cá nhân, ngắn hạn. Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đa phương tuân theo bản chất này của chủ nghĩa đa phương. Đó là chính sách đa phương trong hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trong một nhóm từ ba nước trở lên, với việc: lợi ích của các quốc gia trong nhóm (liên minh) này không thể chia cắt; các quốc gia thành viên tham gia, ứng xử dựa trên các nguyên tắc, bộ nguyên tắc đã được chấp thuận bởi toàn bộ các thành viên liên minh; và sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên phải đem lại lợi ích cho tập thể, giữa các quốc gia thành viên với nhau, không riêng lẻ [38].
Đây là xu hướng mà rất nhiều các quốc gia đang theo đuổi, dù là các nước đang phát triển, phát triển, siêu cường hay các nước nhỏ bởi nó phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các mục đích toàn cầu hóa, thúc đẩy tăng trưởng công bằng ở phạm vi rộng hơn và tốc độ cao hơn rất nhiều so với các chính sách hội nhập kinh tế quốc tế song phương. Các quốc gia nhỏ, yếu thế hơn cần loại chính sách này để có thể đạt được các lợi ích mà họ không thể đạt được trong các đàm phán chính sách với các nước lớn hơn. Còn các quốc gia lớn hơn, tuy có khó khăn hơn trong việc đạt được mục đích của mình một cách áp đảo, nhưng trong bối cảnh chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khủng hoảng kinh tế năm 2008, thực sự cần loại hình chính sách đa phương để có thể tháo gỡ các vấn đề mà các nền kinh tế trong nước của họ gặp phải.