phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì được kết cấu 3 chương cụ thể như sau: hương 1: ơ sở lý luận v năng lực lãnh đạo của gi m đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa. hương 2: Đ nh gi thực trạng năng lực lãnh đạo của gi m đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hủa Phăn. hương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ gi m đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hủa Phăn 10 CHƯ NG 1. C SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
Giám đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hay SMEs (Small and Medium - Enterprises) là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế và là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV rất linh hoạt, năng động, có nhiều lợi thế phát triển nhưng cũng dễ bị tổn thương.
Vì thế hầu hết các nước đều có những chính sách, quy định, biện pháp hỗ trợ để phát triển loại hình doanh nghiệp này. Việc nêu ra được một định nghĩa rõ ràng và hợp lý về DNNVV là rất quan trọng vì điều này sẽ quyết định phạm vi quản lý, môi trường hoạt động, mức độ giúp đỡ từ phía chính phủ. Đến nay, vẫn chưa có khái niệm chung nhất về Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) dùng chung cho các quốc gia trên thế giới. Định nghĩa về DNNVV nói chung thay đổi theo quy mô kinh tế của các quốc gia, chính vì vậy cụm từ DNNVV có ý nghĩa kinh tế hơn là ý nghĩa pháp lý.
Tuy nhiên, các quốc gia có chung tiêu chí cơ bản để định nghĩa về DNNVV là căn cứ vào vốn, lao động và doanh thu hàng năm. Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB), Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ (small) và doanh nghiệp vừa (medium) (World Bank, 2017) [9; tr7] Theo sắc lệnh của Thủ tướng Lào số 42/TTg, ngày 20/04/2004 về việc khuyến khích và phát triển DNNVV đã định nghĩa DNNVV là các DN độc lập đã đăng ký và hoạt động đúng pháp luật của Lào mà đã phân loại theo tiêu chí như sau: 11 + DN nhỏ là các DN có số lượng lao động trung bình mỗi năm không quá 19 người hoặc có tổng tài sản không quá 250 triệu kíp hoặc có tổng doanh thu mỗi năm không quá 400 triệu kíp. + DN vừa là các DN có số lượng lao động trung bình mỗi năm không quá 99 người hoặc có tổng tài sản không quá 1.200 triệu kíp hoặc có tổng doanh thu mỗi năm không quá 1.
Ngoài ra các DNNVV còn chia thành 3 ngành như sau: Ngành 1: DNNVV chuyên về sản xuất hàng hóa. Ngành 2:DNNVV chuyên về thương mại. Ngành 3 :DNNVV chuyên về dịch vụ. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Cùng với xu hướng phát triển năng động của nền kinh tế, DNNVV ngày càng có vai trò và vị trí quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia, khu vực và thế giới.
Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, vai trò của DNNVV có thể xem xét trên các khía cạnh sau đây: - DNNVV là lực lượng DN chính trong nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia: theo kết quả thống kê, DNNVV chiếm đến trên 90% tổng số doanh nghiệp của các quốc gia trên thế giới. cụ thể, tại các nước khối EU khoảng 90%, tại M : 98%, tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương: 96%, tại Nhật Bản: 98% và tại Việt Nam là khoảng 98,1%. - DNNVV là lực lượng chính tạo công ăn việc làm cho người lao động: Tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương DNNVV sử dụng trên 60% lao động, tại Nhật Bản khoảng 75%, tại Việt nam hàng năm các DNNVV đã tạo ra trên một triệu lao động mới, tạo việc làm cho 55% lao động xã hội, đặc biệt là lao động tại địa phương và khu vực nông thôn (chiếm gần 60%) - DNNVV có đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế: theo nghiên cứu của James Obi et al., (2018) DNNVV là động lực quan trọng có mối quan hệ thúc đ y sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thự tế cho 12 thấy, trong khu vực EU, DNNVV tạo ra khoảng 65% tổng doanh số; ở M là trên 50% tổng GDP, Thái lan là trên 67%, Việt Nam có mức đóng góp vào GDP khá lớn khoảng trên 40% và tốc độ tăng trưởng ngày càng cao.
- Các DNVVN đóng một vai trò quan trọng trong kiến tạo hệ sinh khởi nghiệp thái rộng lớn, năng động và sáng tạo. Các công ty mới thành lập và doanh nghiệp trẻ, thường là các doanh nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ, là nguồn tạo ra việc làm ròng chính ở nhiều quốc gia. Hơn nữa, sự năng động của DNNVV là động lực quan trọng thúc đ y tăng trưởng năng suất quốc gia (OECD, 2016). DNNVV được đánh giá đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là động lực cho khởi nghiệp, là nơi tạo ra việc làm chủ yếu và tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo, ….
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường phát triển kinh tế tại Lào. Tuy nhiên, các DNNVV tại Lào nhỏ và thiếu sức cạnh tranh. Các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tự do hóa thương mại tại Lào mang lại cơ hội và thách thức đối với các DNNVV tại Lào. Hơn nữa, vấn đề của doanh nghiệp nhỏ và đánh giá các chính sách xúc tiến DNNVV chưa được hiểu rõ cho thiếu các nghiên cứu.
Mặc dù, Chính phủ Lào đã xác định các chính sách và chiến lược để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, nhưng lại thiếu các chương trình cụ thể mà có thể thực thi hiệu quả những chính sách này. Do đó, các DNNVV đang phải đối mặt với các vấn đề: chi phí thuế, lạm phát cao, tỷ giá hối đoái không ổn định và tài trợ không đầy đủ. Hơn nữa, doanh nghiệp nhỏ đang phải đối mặt với các vấn đề về tính sáng tạo, khả năng cạnh tranh, thị trường hạn chế và mạng lưới kinh doanh. DNNVV là một phần quan trọng của nền kinh tế của Lào và sử dụng một phần lớn dân số.
Tuy nhiên, ít hơn 20 phần trăm của các DNNVV có thể truy cập đến tín dụng dài hạn, mà làm cho nó khó khăn cho họ để phát triển và cạnh tranh với các doanh nghiệp nhỏ khác ở châu Á. Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy nhiên, căn cứ và tiêu chí đánh giá phân loại DNNVV ở mỗi quốc gia, khu vực lại có sự khác biệt. Tại các quốc gia Châu Âu, DNNVV được phân loại dựa vào số lao động, doanh thu, lợi nhuận và vốn đầu tư.1: Tiêu chí phân loại DNNVV trên thế giới Lao động tối Tài sản tối đa Doanh thu tối đa Tổ chức đa (người) (triệu đồng) (triệu đồng) Ngân hàng thế giới (WB) 300 100.000 Qu tiền tệ thế giới (IMF) 100 200.000 Không Liên hợp quốc (UNDP) 200 Không Không Ngân hàng phát triển Châu Phi 50 Không Không Ngân hàng phát triển Châu Á Không có tiêu chí cụ thể cho khu vực Châu Á (ADB) (dựa vào quy định của từng quốc gia) Nguồn: Báo cáo thường niên - Ngân hàng thế giới, 2014 Trong khi đó, tại các nước Châu M ngoài các tiêu chí về vốn, lao động, doanh thu còn cần thêm tiêu chí về đóng góp vào ngân sách nhà nước để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Tại châu Á, DNNVV được phân loại dựa vào 3 tiêu chí cơ bản đó là số lao động, vốn đầu tư và doanh thu hàng năm.
Định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ thay đổi từ nước này sang nước khác về số lượng nhân viên, giá trị tổng tài sản và tổng doanh thu. Tại Lào việc phân biệt giữa các định nghĩa và định lượng của các DNNVV: + Phương pháp định lượng sử dụng các tiêu chí về số lượng công nhân, khối lượng bán hàng, hoặc kết hợp cả hai. Những biện pháp này là đơn giản và thường được sử dụng bởi các quốc gia đang phát triển. + Định tính là linh hoạt hơn và liên quan đến cách các doanh nghiệp khác trong lĩnh vực phát triển kinh doanh như phát triển tài chính và năng lực k thuật hoặc quản lý.
Năm 2013, Cục thống kê quốc gia lặp lại các định nghĩa sau đó mới đưa ra bởi Bộ Công nghiệp và Thủ công m nghệ (The Ministry of Industry and Handicraft – MIH). Dựa trên định nghĩa của nó, các 14 doanh nghiệp nhỏ có 1-9 lao động, các doanh nghiệp vừa và nhỏ 10 đến 99 và các doanh nghiệp lớn hơn 99.2: Phân loại doanh nghiệp tại Lào Phân loại Số lượng nhân Doanh thu Tổng tài sản doanh nghiệp viên (người) (triệu kíp) (triệu kíp) Siêu nhỏ 1- 4 < 100 < 70 Nhỏ 5-9 < 400 < 250 Vừa 10-99 < 2.200 Nguồn: Cục thống kê Lào, 2013 [15] Các doanh nghiệp nhỏ là cơ sở có một số bình quân hàng năm của người lao động không quá 19 người hoặc tổng tài sản không quá 250.000 kip hoặc doanh thu hàng năm không quá 400 triệu kíp. - Doanh nghiệp vừa là cơ sở có một số bình quân hàng năm nhân viên không quá 99 người hoặc tổng tài sản không vượt quá 1.200 triệu kíp hoặc doanh thu hàng năm không vượt quá 1. Khái niệm và vai trò của giám đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm Quan niệm về giám đốc doanh nghiệp trong các thời kỳ cũng có sự thay đổi. Nếu như trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, giám đốc được quan niệm như là một chức vụ vì nó được nhà nước bổ nhiệm thì ở nền kinh tế thị trường giám đốc được quan niệm là một nghề vì nó đòi hỏi phải được đào tạo qua trường lớp và trước khi được tuyển chọn làm giám đốc thì phải thông qua thi tuyển và kiểm tra tay nghề [8; tr 30]. Do sự đa dạng trong loại hình doanh nghiệp của nền kinh tế quốc dân nên quan niệm và khái niệm về GĐDN cũng tương đối phong phú.