CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHƯƠNG 2: T H ựC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI LÀO CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẺ BÙ ĐÁP THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4 Chưotig 1 NHỮNG VÁN ĐẺ C ơ BẢN VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. TỎNG QUAN VÊ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. K hái niệm Ngân sách Nhà nưóc Ngân sách Nhà nước (NSNN) được biểu hiện theo nghĩa hẹp và nghĩa rông. Theo nghĩa hẹp nó là một hệ thống kế hoạch tài chính của quốc gia nhằm thống nhất quản lý các khoản thu và chi Ngân sách Nhà nước của quốc gia đó trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm.
Theo nghĩa rộng thì Ngân sách Nhà nước không bị giới hạn về mặt không gian và thời gian; NSNN là một quá trình không chỉ giới hạn trong việc quản lý, sử dụng các nguôn tài chính của Nhà nước mà còn đóng vai trò quan trọngtrong việc khai thác định hướng, phối họp sử dụng các nguồn lực tài chính Nhà nước với việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong các tầng lớp dân cư nhằm mục đích để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Có thể nói Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và cũng là phạm tru hch sử, Sự hình thành và phát triên của Ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuât hiện và phát triên của kinh tê hàng hóa - tiền tệ trong phương thức sản xuât của cộng đông và Nhà nước của từng cộng đồng. Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan quyền lực cộng đồng để duy trì và phát triển xã hội. Đê thực hiện chức năng đó Nhà nước phải có nguồn lực tài chính bằng quyên lực công cộng, Nhà nước ân định các thứ thuế bắt công nhân phải đóng góp thực hiện qua luật pháp để có nguồn tài chính để bù đắp chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát, an ninh.
5 Ý kiến về Ngân sách Nhà nước cụ thể như sau: - Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thầm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. - Ngân sách Nhà nước là mối liên hệ kinh tế giữa một bên là Nhà nước và một bên là quần chúng trong toàn xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng nguồn tài chính khác nhau nhằm đáp ứng những nghĩa vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Ngân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung và là kế hoạch tài chính của Nhà nước. - Ngân sách Nhà nước là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm.
Xét về mặt hình thức thì Ngân sách Nhà nước là tổng hợp các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước. Xét về nội dung kinh tế, Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phổi tổng sản phẩm quốc dân và các nguồn vốn tiền tệ khác thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Suy ra cùng Ngân sách Nhà nước phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong Ngân sách Nhà nước. Xét về mặt hình thức Ngân sách Nhà nước là một bản dự toán thu và chi do chính phủ lập ra, để trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện.
Xét về thực thể Ngân sách Nhà nước bao gồm những nguồn thu và những nguồn chi cụ thể đã được định lượng. Các nguồn thu đều hợp vào một quỹ tiền tệ và các khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy. 6 Ngân sách Nhà nước là tiền tệ quốc gia, được dự định hình thành và sử dụng một cách có tổ chức, có mục đích và được thực hiện theo dự định đó. Nghiệp vụ chủ yếu của Ngân sách Nhà nước là thu và chi, nhưng không đơn thuần là việc tăng giảm số lượng tiền tệ mà còn phản ánh mức độ quyên lực ý chí và sở nguyện của Nhà nước, đồng thời biểu hiện quan hệ kinh tế - tài chính giữa Nhà nước với các tác nhân khác của nền kinh tế trong quá trình phân bổ các nguồn lực mới sáng tạo ra, các doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nước, góp phần chủ yếu hình thành nguồn thu của Ngân sách Nhà nước, đồng thời doanh nghiệp được Nhà nước trợ cấp, đầu tư, tài trợ vốn (nếu có), được hưởng các lợi ích gián tiếp khác (cơ sở hạ tầng, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực .) do Nhà nước chủ trì mang lại.
Các hộ gia đình, dân cư, và đoàn thể tổ chức phi lợi nhuận có nghĩa vụ phải đóng thuế cho Nhà nước và được Nhà nước tài trợ và cấp kinh phí (Trợ cấp gia đình, trợ cấp thất nghiệp, kinh phí lao động .) được Nhà nước đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, xã hội, thông tin, bảo đảm xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khỏe công đồng khác. Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thế của nó trong từng giai đoạn cụ thể. Vai trò của Ngân sách Nhà nưóc Ngân sách nhà nước có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu câu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước. Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh tế.
Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Ngân sách Nhà nước còn có vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà nước. Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục 7 những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường. Vai trò công cụ điều chỉnh nền kinh tế xã hội của Ngân sách Nhà nước thể hiện cụ thể trên các lĩnh vực sau đây: - về m ặt kinh tế Để khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện việc định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
Ngân sách Nhà nước đảm bảo để cung câp kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp. Như vậy xét theo khía cạnh này, bằng chính sách đầu tư đúng đắn, Ngân sách đã có tác động đến việc hình thành cơ cấu kinh tế mới, chống độc quyền, tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí Ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, NSNN củng cổ vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
- về măt x ã hôi • • Thông qua hoạt động thu chi, NSNN thực hiện tái phân phối thu nhập, đảm bảo sự công bằng xã hội. Thông qua hoạt động thu Ngân sách Nhà nước dưới hình thức kết họp thuế gián thu và thuế trực thu, Nhà nước điều tiết thu nhập, điều tiết tiêu dùng, đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động, hạn chế những thu nhập bất chính. Bên cạnh đó thông qua hoạt động chi dưới hình thức trợ cấp giá, Nhà nước cũng thực hiện được các chính sách dân số, chính sách việc làm, chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội. 8 Tuy nhiên, trong điều kiện Ngân sách Nhà nước còn eo hẹp, chi phí giải quyết các vấn đề xã hội rất lớn, việc giải quyết các vấn đề xã hội phải triệt để thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Những khoản chi của Ngân sách Nhà nước đê giải quyết các vấn đề xã hội phải đảm bảo yêu câu tiêt kiệm, hiệu quả, chi đúng đối tượng, đúng vụ việc cần chi; có như vậy mới nâng cao được tác dụng các khoản chi NSNN trong việc điều chỉnh các vấn đề xã hội. - về m ặt thị trường Thông qua các khoản thu chi NSNN, Nhà nước thực hiện việc bình ổn gía cả thị trường, chông lạm phát. Trong điều kiện kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu. Bằng công cụ thuế và chính sách chi tiêu của NSNN, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc câu đê bình ôn giá cả.
Đặc biệt, với việc hình thành quỹ dự phòng trong Ngân sách Nhà nước có thể giảm bót sự biến động của thị trường từ đó bình ổn được giá cả. Sự thành công của Nhà nước trong điều chỉnh giá cả thị trường là thông qua việc hình thành và nghệ thuật sử dụng các quỳ dự trữ Nhà nước. Các quỹ dự trữ này được hình thành chủ yếu từ kinh phí NSNN. Thuế, chi tiêu và dự trữ Nhà nước có tác dụng rất lớn đến quan hệ cung cầu và bình ổn giá cả trên thị trường.
Hoạt động thu chi của NSNN có môi quan hệ chặt chẽ với vân đê lạm phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế. Lạm phát xảy ra khi mức giá cả và chi phí tăng. Để giảm lạm phát tất yếu phải dùng các biện pháp để hạ thấp giá, hạ thấp chi phí.
Sự tăng giá cả cũng có thê là do cung cầu mất cân đối, nói cụ thể là cung nhỏ hơn câu. Băng biện pháp thu chi của Ngân sách, Nhà nước có thể nâng đỡ cung, giảm bớt cầu; nghĩa là khi xảy ra lạm phát, Nhà nước một mặt có thể tăng thuế tiêu dùng giảm thuế đối với đầu tư phát triển, mặt khác có thể thắt chặt các khoản chi tiêu của Ngân sách Nhà nước. Mối quan hệ giữa thu và chi Ngân sách Nhà nước Một bộ phận tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ thông qua phân phối được tập trung vào Ngân sách Nhà nước gọi là sô thu của Ngân sách Nhà nước.