Tổng quan nghiên cứu

Ngành dệt may Việt Nam ghi nhận giai đoạn tăng trưởng bứt phá với tốc độ bình quân đạt 23,8%/năm trong giai đoạn 1990 - 2000 và tiếp tục duy trì mức tăng 19% vào năm 2004. Với tỷ lệ hơn 92% sản lượng sản xuất dành cho xuất khẩu, dệt may đã vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp 4,3 tỷ USD trong tổng số 26 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2004. Tuy nhiên, trước thời điểm các quốc gia thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chính thức xóa bỏ hoàn toàn hạn ngạch dệt may theo Hiệp định Dệt may (ATC) từ ngày 01/01/2005, sản phẩm dệt may Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc dệt may như Trung Quốc và Ấn Độ trong khi tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam vẫn đang diễn ra.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là năng lực cạnh tranh xuất khẩu của dệt may Việt Nam còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về công nghệ lạc hậu, giá trị gia tăng nội địa thấp và sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may xuất khẩu giai đoạn 1995 - 2004, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng và xây dựng hệ thống giải pháp chiến lược nhằm thực hiện thành công Quyết định số 55/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu lên mức 8 đến 9 tỷ USD và đạt tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu 75% vào năm 2010. Nghiên cứu tập trung vào phạm vi ngành dệt may trên lãnh thổ Việt Nam với đối tượng nghiên cứu là các chỉ số cạnh tranh vĩ mô và vi mô của sản phẩm xuất khẩu, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách phát triển bền vững cho ngành công nghiệp đóng góp 15,4% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận kinh tế học hiện đại về cạnh tranh và lợi thế thương mại quốc tế, trong đó trọng tâm là Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia và cấp độ ngành. Mô hình này phân tích sức cạnh tranh thông qua 4 nhóm nhân tố tương tác: điều kiện các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu nội địa và quốc tế, các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan, cùng chiến lược và cấu trúc cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, luận văn kết hợp lý thuyết chi phí đơn vị của Fafchamps về khả năng duy trì mức chi phí biến đổi thấp hơn giá thị trường và quan điểm của Randall, Dunning về năng lực mở rộng thị phần gắn liền với hiệu quả sinh lời.

Các khái niệm nền tảng được làm rõ bao gồm: cạnh tranh giá cả, cạnh tranh phi giá cả (chất lượng, mẫu mã, thời gian giao hàng), năng lực cạnh tranh cấp quốc gia theo khung đánh giá 8 nhóm chỉ số với hơn 200 tiêu chí của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), và năng lực cạnh tranh sản phẩm. Để định lượng hóa sức cạnh tranh, nghiên cứu thiết lập 3 công cụ đo lường chuyên sâu: Hệ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA) nhằm đánh giá vị thế xuất khẩu tương đối trên thị trường toàn cầu; Hệ số chi phí nguồn lực nội địa (DRC) nhằm xác định hiệu quả sử dụng tài nguyên trong nước để tạo ra một đơn vị ngoại tệ xuất khẩu; và Chỉ số chi phí đơn vị (UC = TC/VO) nhằm đo lường khả năng sinh lợi trực tiếp của doanh nghiệp khi đối chiếu tổng chi phí với giá trị sản lượng theo giá FOB quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của kinh tế chính trị học gồm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp định lượng và định tính như phân tích chuỗi thời gian, thống kê mô tả, tổng hợp so sánh và dự báo kinh tế. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ Niên giám thống kê giai đoạn 1997 - 2003 của Tổng cục Thống kê, số liệu xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, Bộ Công nghiệp và các báo cáo hoạt động của Tổng công ty Dệt May Việt Nam (VINATEX).

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm hơn 50 doanh nghiệp dệt may đại diện cho cả 3 khối sở hữu: doanh nghiệp nhà nước thuộc VINATEX, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp định ngạch được áp dụng tại các địa bàn trọng điểm: vùng Đông Nam Bộ (chiếm khoảng 50% sản lượng dệt may cả nước), Đồng bằng sông Hồng (chiếm 25% sản lượng dệt và 18% sản lượng may) và miền Trung (chiếm khoảng 15%). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chỉ số chi phí đơn vị và so sánh chuỗi thời gian là nhằm bóc tách chính xác các yếu tố cấu thành giá trị sản phẩm, loại bỏ các tác động đột biến do trợ giá hay biến động tỷ giá hối đoái, qua đó phản ánh đúng thực chất năng lực cạnh tranh nội tại của sản phẩm dệt may Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 3 phát hiện quan trọng về thực trạng ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi:

Thứ nhất, năng lực sản xuất tăng trưởng vượt bậc về quy mô nhưng mất cân đối nghiêm trọng giữa dệt và may. Giai đoạn 2001 - 2003, sản lượng sản phẩm may toàn ngành tăng 55,9% từ 401 triệu sản phẩm lên 625,4 triệu sản phẩm; sản lượng sợi toàn bộ tăng 17,9% đạt 106.000 tấn; sản lượng dệt vải và hoàn tất tăng 27,6% đạt 513 triệu m2. Riêng khối VINATEX, sản phẩm may tăng trưởng đột biến 79,4% đạt 146,6 triệu sản phẩm năm 2003. Tuy nhiên, ngành công nghiệp dệt và nguyên phụ liệu phụ trợ trong nước không theo kịp đà tăng trưởng của ngành may, dẫn đến tình trạng phải nhập khẩu tới 80% nhu cầu bông nguyên liệu và gần như 100% sợi tổng hợp, hóa chất nhuộm cùng thiết bị máy móc.

Thứ hai, cơ cấu thành phần kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng xã hội hóa nguồn vốn đầu tư. Khối doanh nghiệp tư nhân phát triển bứt phá, chiếm 46% tổng số cơ sở trong ngành, đóng góp từ 35% đến 40% sản phẩm nguyên liệu dệt và chiếm tới 70% đến 75% tổng sản lượng may mặc toàn quốc. Khu vực FDI thu hút 386 dự án trong giai đoạn từ năm 2001 đến tháng 6/2003 với tổng vốn đăng ký đạt 981,4 triệu USD, giữ vai trò then chốt trong việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới. Trong khi đó, khối quốc doanh với nòng cốt là VINATEX đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt đầu tư chiều sâu và quy hoạch hạ tầng cụm công nghiệp.

Thứ ba, kim ngạch xuất khẩu duy trì tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng phương thức xuất khẩu chủ yếu mang tính gia công thầu phụ với giá trị gia tăng hạn chế. Ngành dệt may đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 13,8%/năm giai đoạn 1997 - 2003, cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của nền kinh tế là 6,67%. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch quốc gia duy trì ở mức bình quân 15,4%, đạt 3,68 tỷ USD năm 2003 và 4,3 tỷ USD năm 2004. Dẫu vậy, hơn 75% hợp đồng xuất khẩu thực hiện theo hình thức gia công thuần túy (CMT), khiến năng lực tự chủ về thiết kế và phân phối bị phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác nước ngoài.

Thảo luận kết quả

Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may được thể hiện trực quan qua bảng so sánh tốc độ tăng trưởng GDP và giá trị xuất khẩu, cùng đồ thị phân bổ chi phí đơn vị (Unit Cost) giữa các nhóm doanh nghiệp khảo sát. Kết quả phân tích cho thấy lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam thời gian qua chủ yếu dựa vào nguồn lao động dồi dào với chi phí tiền lương thấp. Tuy nhiên, khi đối chiếu theo Mô hình Kim cương của Porter, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu công nghiệp phụ trợ yếu kém và công nghệ dệt nhuộm lạc hậu, khi có tới 94% máy dệt thoi cũ kỹ khiến chi phí sản xuất vải trong nước thiếu tính cạnh tranh so với hàng nhập khẩu.

So sánh với bài học kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc đã thành công nhờ chính sách tái cơ cấu kiên quyết từ năm 1998, xóa bỏ hơn 1.000 máy se sợi lỗi thời, tinh giản lao động từ 12,43 triệu người xuống 5,07 triệu người năm 2001 để nâng giá trị sản xuất bình quân mỗi doanh nghiệp từ 8,2 triệu NDT lên 44,13 triệu NDT. Tương tự, Ấn Độ tập trung vào chính sách tự lực nguyên liệu, đạt mức tăng trưởng xuất khẩu vải 13,32%/năm giai đoạn 1995 - 2005. Thực tiễn này khẳng định việc Việt Nam tiếp tục duy trì phương thức gia công giá rẻ sẽ khiến ngành mất dần lợi thế khi các rào cản hạn ngạch dệt may được dỡ bỏ hoàn toàn, đòi hỏi phải nhanh chóng chuyển hướng sang nâng cao năng suất và tỷ lệ nội địa hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu cho sản phẩm dệt may Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế sâu rộng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, quy hoạch và phát triển đồng bộ chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu dệt may nội địa. Bộ Công nghiệp phối hợp cùng VINATEX và các địa phương đẩy nhanh tiến độ đầu tư 11 cụm công nghiệp dệt may tập trung, hoàn thiện hạ tầng xử lý nước thải và dệt nhuộm hoàn tất; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cung ứng nguyên phụ liệu trong nước từ mức 25% lên 75% vào năm 2010, giảm tỷ lệ nhập khẩu bông vải xuống dưới 50% thông qua các chương trình phát triển vùng nguyên liệu bông chuyên canh.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công sang xuất khẩu trọn gói FOB và ODM. Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cùng cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động cắt giảm tỷ trọng hợp đồng gia công CMT xuống dưới 40% tổng sản lượng trước năm 2008, thành lập các trung tâm thiết kế thời trang chuyên nghiệp, ứng dụng phần mềm CAD/CAM trong thiết kế mẫu mã nhằm gia tăng giá trị thặng dư xuất khẩu, hướng tới đích kim ngạch 8 đến 9 tỷ USD vào năm 2010.

Thứ ba, thực hiện hiện đại hóa công nghệ và áp dụng các tiêu chuẩn quản trị quốc tế. Các doanh nghiệp dệt may cần tận dụng nguồn vốn vay ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ Phát triển để thay thế toàn bộ hệ thống máy dệt thoi lạc hậu bằng máy dệt khí và dệt kim tự động, phấn đấu hạ chỉ số chi phí đơn vị sản xuất từ 10% đến 15% trong vòng 3 năm; đồng thời triển khai đồng bộ các chứng chỉ chất lượng ISO 9000, tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA 8000 và tiêu chuẩn an toàn WRAP để vượt qua các rào cản kỹ thuật tại thị trường Hoa Kỳ và EU.

Thứ tư, hoàn thiện khung chính sách vĩ mô và đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế. Chính phủ và Bộ Thương mại cần khẩn trương đẩy mạnh đàm phán gia nhập WTO trong giai đoạn 2005 - 2006 nhằm xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử về thuế quan và hạn ngạch; thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu thông thoáng, cải cách thủ tục hải quan và xây dựng các trung tâm thông tin thị trường dệt may quốc tế để kịp thời cảnh báo các rào cản chống bán phá giá cho doanh nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, lãnh đạo và ban quản trị các doanh nghiệp dệt may. Tài liệu cung cấp cơ sở phân tích chi phí đơn vị, phương pháp đánh giá thị phần và kinh nghiệm chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công CMT sang FOB/ODM để nâng cao biên lợi nhuận khi tiếp cận các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản.

Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách ngành công nghiệp, thương mại. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế điều hành hạn ngạch, xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư cho 11 cụm công nghiệp phụ trợ dệt may theo định hướng của Quyết định 55/2001/QĐ-TTg.

Thứ ba, các viện nghiên cứu, chuyên gia kinh tế và giảng viên đại học. Bộ dữ liệu tổng hợp giai đoạn 1995 - 2004 cùng khung phân tích các chỉ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA) và chi phí nguồn lực nội địa (DRC) là nguồn tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu về kinh tế phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành.

Thứ tư, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế quốc tế và Quản trị kinh doanh. Luận văn là hình mẫu hoàn chỉnh về phương pháp luận nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết cạnh tranh hiện đại và khảo sát thực tiễn tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Những yếu tố nào tạo nên bước tăng trưởng xuất khẩu vượt bậc của dệt may Việt Nam giai đoạn 1995 - 2004? Tăng trưởng xuất khẩu đạt tốc độ bình quân 19,1%/năm và chạm mốc 4,3 tỷ USD năm 2004 chủ yếu nhờ vào lợi thế nguồn nhân công dồi dào, chi phí tiền lương thấp và sự mở rộng thị trường vượt bậc tại Hoa Kỳ sau khi Hiệp định Thương mại Song phương (BTA) có hiệu lực, cùng sự tham gia năng động của 386 dự án FDI.

Đâu là điểm yếu lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam được chỉ ra trong luận văn? Điểm yếu nghiêm trọng nhất là sự mất cân đối chuỗi giá trị khi ngành dệt phụ trợ yếu kém, buộc ngành may phải nhập khẩu 80% bông xơ và 100% sợi nhân tạo, dẫn đến hơn 75% sản lượng xuất khẩu chỉ dừng lại ở phương thức gia công thầu phụ với giá trị gia tăng nội địa rất thấp.

Việc các nước WTO xóa bỏ hạn ngạch dệt may từ ngày 01/01/2005 tạo ra thách thức gì cho Việt Nam? Khi chế độ hạn ngạch theo Hiệp định Dệt may (ATC) chấm dứt, các nước thành viên WTO được tự do xuất khẩu mà không bị áp quota, khiến hàng dệt may Việt Nam gặp bất lợi lớn về thuế quan và khả năng cạnh tranh trước các đối thủ như Trung Quốc và Ấn Độ do Việt Nam chưa phải là thành viên chính thức của WTO tại thời điểm đó.

Chỉ số RCA và DRC có ý nghĩa như thế nào trong đánh giá năng lực cạnh tranh dệt may? Chỉ số RCA lớn hơn 1 xác nhận sản phẩm may mặc Việt Nam sở hữu lợi thế so sánh hiển thị trên thị trường xuất khẩu, trong khi hệ số DRC giúp lượng hóa chi phí nội địa bỏ ra để thu về một đơn vị ngoại tệ, phản ánh yêu cầu cấp thiết phải giảm chi phí trung gian và gia tăng tỷ lệ linh phụ kiện nội sinh.

Bài học kinh nghiệm nào từ Trung Quốc và Ấn Độ có thể áp dụng cho Việt Nam? Việt Nam cần kiên quyết tinh giản các cơ sở sản xuất nhà nước kém hiệu quả, khuyến khích sáp nhập doanh nghiệp để tăng quy mô đón đơn hàng lớn như cách Trung Quốc đã làm, đồng thời triển khai chính sách nhất quán tự chủ vùng nguyên liệu sợi và vải theo mô hình thành công của Ấn Độ.

Kết luận

  • Dệt may xác lập vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn với kim ngạch đạt 4,3 tỷ USD năm 2004, chiếm tỷ trọng bình quân 15,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
  • Năng lực sản xuất toàn ngành phát triển nhanh chóng, đạt hơn 625,4 triệu sản phẩm may và 106.000 tấn sợi năm 2003, với sự tham gia chủ lực của khối tư nhân và FDI.
  • Hạn chế nội tại lớn nhất là tính gia công cao, công nghệ dệt nhuộm lạc hậu và sự lệ thuộc tới 80% vào nguồn bông vải cùng nguyên phụ liệu nhập khẩu.
  • Định hướng phát triển chiến lược đòi hỏi phải triển khai đồng bộ 11 cụm công nghiệp dệt nhuộm tập trung nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa lên mức 75% vào năm 2010.
  • Mục tiêu tổng thể là đưa kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 8 đến 9 tỷ USD vào năm 2010 thông qua việc chuyển dịch mạnh mẽ sang hình thức xuất khẩu FOB/ODM và nâng cấp công nghệ đạt chuẩn quốc tế.

Các doanh nghiệp dệt may và cơ quan quản lý cần nhanh chóng hiện thực hóa lộ trình đổi mới công nghệ, tối ưu hóa chi phí đơn vị và đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị nhằm chủ động tận dụng tối đa cơ hội từ tiến trình gia nhập WTO.