Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dược phẩm Việt Nam ghi nhận quy mô tiêu thụ đạt 1.913,66 triệu USD với mức tăng trưởng bình quân hàng năm duy trì từ 17% đến 19%, đẩy mức chi tiêu tiền thuốc bình quân đầu người tăng lên 22,25 USD. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, sức ép cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt khi các tập đoàn dược phẩm đa quốc gia nắm giữ ưu thế vượt trội ở phân khúc thuốc đặc trị và mở rộng sang phân khúc phổ thông. Trong khi đó, thuốc sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 48,03% nhu cầu sử dụng thực tế của người dân, đối mặt với nguy cơ suy giảm thị phần do cơ cấu sản phẩm trùng lặp và hàm lượng công nghệ chưa cao.

Trước bối cảnh đó, vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là làm thế nào để các doanh nghiệp dược nội địa nhận diện chính xác vị thế và xây dựng năng lực cạnh tranh bền vững. Luận văn hướng đến hai mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương Mediplantex thông qua hệ thống tiêu chí định lượng và định tính toàn diện; thứ hai, đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược khả thi nhằm củng cố nội lực, mở rộng thị phần và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.

Phạm vi không gian của đề tài tập trung khảo sát tại trụ sở, 2 nhà máy sản xuất và các đơn vị thành viên của Mediplantex tại Hà Nội cùng mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên thị trường dược miền Bắc. Phạm vi thời gian phân tích số liệu tài chính, sản xuất kinh doanh kéo dài từ năm 2005 đến năm 2010, kết hợp điều tra chuyên sâu trong giai đoạn cuối năm 2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp bức tranh định lượng rõ nét về sức mạnh cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp đạt 3,39 trên thang điểm 5,00, đồng thời chỉ ra các nút thắt về tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (chỉ đạt 0,77%) để ban lãnh đạo định hình lộ trình tái cấu trúc toàn diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter, trong đó nhấn mạnh bản chất của cạnh tranh là quá trình giành thị phần và tìm kiếm mức lợi nhuận vượt trội hơn mức trung bình ngành thông qua hai chiến lược cốt lõi: cạnh tranh bằng chi phí thấp và tạo sự khác biệt hóa sản phẩm. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp khung lý thuyết đánh giá năng lực cạnh tranh của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế cùng quan điểm của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, xem xét năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra mức thu nhập cao, duy trì năng suất và tăng trưởng bền vững trong môi trường mở cửa tự do.

Để đánh giá ngành dược, đề tài vận dụng mô hình phân loại trình độ phát triển công nghiệp dược của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc gồm 5 cấp bậc phát triển, trong đó ngành dược Việt Nam được định vị ở khoảng nhóm 3 đến nhóm 4, cùng thang phân loại 4 cấp độ của Tổ chức Y tế Thế giới và Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc khi xác định Việt Nam ở cấp độ 3 với năng lực sản xuất thuốc gốc thành phẩm từ nguyên liệu nhập khẩu và xuất khẩu một phần. Các khái niệm chính được làm rõ trong luận văn bao gồm: Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp, thị phần tương đối, năng lực nghiên cứu phát triển, hiệu quả xúc tiến thương mại và hệ thống chỉ số an toàn tài chính như hệ số thanh toán hiện hành và hệ số thanh toán nhanh. Dưới góc nhìn toàn cầu, chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam đạt 4,3 điểm, xếp thứ 59 trên 139 nền kinh tế, tạo bối cảnh vĩ mô trực tiếp tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo sản xuất kinh doanh nội bộ của Mediplantex giai đoạn 2008 - 2010, tài liệu tổng kết ngành của Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế và cơ sở dữ liệu của Hiệp hội Doanh nghiệp Dược Việt Nam.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp phỏng vấn chuyên sâu thông qua phiếu điều tra bảng hỏi chuẩn hóa theo thang đo 5 mức độ. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 30 cán bộ quản lý chủ chốt, bao gồm thành viên Hội đồng Quản trị, Ban Tổng Giám đốc, các Giám đốc chi nhánh cùng toàn bộ Trưởng và Phó phòng ban chức năng của công ty. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn vì nhóm đối tượng này sở hữu hiểu biết sâu sắc nhất về nguồn lực, chiến lược và bức tranh vận hành nội bộ của doanh nghiệp.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tỷ trọng, so sánh kinh tế học và mô hình tính điểm có trọng số là nhằm lượng hóa các khía cạnh vô hình thành điểm số đo lường cụ thể. Công thức đánh giá năng lực cạnh tranh tổng hợp của doanh nghiệp được xác định bằng tổng tích số giữa hệ số quan trọng của từng tiêu chí và điểm bình quân tương ứng từ mẫu đánh giá, với 10 chỉ tiêu được phân bổ trọng số gồm 3 mức là 0,15, 0,10 và 0,05. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.0, sau đó tiến hành xử lý thống kê mô tả và phân tích tương quan trên phần mềm SPSS 16.0 trong mốc thời gian thực hiện từ ngày 15/09/2011 đến ngày 19/12/2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp khảo sát thực chứng cho thấy điểm đánh giá năng lực cạnh tranh tổng hợp của Mediplantex đạt 3,39 trên thang điểm 5,00, phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mới ở mức trung bình và còn nhiều điểm yếu nội tại. Trong 10 chỉ tiêu thành phần, chỉ có 2 chỉ tiêu đạt mức đánh giá khá là năng lực sản xuất với 4,09 điểm và cơ sở hạ tầng đạt 3,71 điểm. Công ty sở hữu 2 nhà máy đạt chuẩn GMP-WHO với tổng công suất thiết kế 500 triệu viên/năm, đi kèm hệ thống kho bảo quản GSP có diện tích 10.000 m2 và 2 phòng kiểm tra chất lượng đạt tiêu chuẩn GLP. Tỷ lệ sản phẩm có độ ổn định và hạn dùng dài từ 3 đến 4 năm chiếm tới 86,13% trong tổng số 310 chế phẩm lưu hành.

+-------------------------------------------------------------------------+
| BẢNG TỔNG HỢP CÁC CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MEDIPLANTEX           |
+------------------------------------+------------+-----------------------+
| Tiêu chí phân tích                 | Trọng số   | Kết quả thực tế       |
+------------------------------------+------------+-----------------------+
| Điểm năng lực cạnh tranh tổng hợp  | 1,00       | 3,39 / 5,00 điểm      |
| Điểm năng lực sản xuất             | 0,10       | 4,09 / 5,00 điểm      |
| Điểm cơ sở hạ tầng kỹ thuật        | 0,15       | 3,71 / 5,00 điểm      |
| Hệ số thanh toán nhanh (năm 2010)  | -          | 0,04 lần              |
| Tỷ suất LN sau thuế / Doanh thu    | -          | 0,77%                 |
| Chi phí R&D / Tổng doanh thu       | 0,05       | 0,61% (3,0 tỷ đồng)   |
| Tỷ trọng Top 10 sản phẩm lớn nhất  | -          | 10,08% (49,2 tỷ đồng) |
| Tỷ trọng nhóm thuốc kháng sinh     | 0,15       | 18,8% (16/85 chế phẩm)|
| Ngân sách quảng cáo trong xúc tiến | -          | 49,3% (3,5 tỷ đồng)   |
| Trình độ đại học và trên đại học   | 0,10       | 26,97% (123/456 người)|
+------------------------------------+------------+-----------------------+

Trái ngược với lợi thế hạ tầng, năng lực tài chính và nghiên cứu phát triển là hai mắt xích yếu nhất kéo tụt sức mạnh của doanh nghiệp. Hệ số thanh toán nhanh năm 2010 rơi xuống mức nguy hiểm là 0,04 lần và hệ số thanh toán nợ ngắn hạn duy trì ở mức 1,07 lần, đặt công ty trước áp lực thanh khoản rất cao. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần sụt giảm từ 1,63% năm 2009 xuống còn 0,77% năm 2010. Mức đầu tư cho R&D dù tăng từ 1,4 tỷ đồng năm 2008 lên 3,0 tỷ đồng năm 2010 nhưng chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn 0,61% tổng doanh thu. Cơ cấu danh mục sản phẩm biểu hiện rõ sự phân tán khi 10 sản phẩm có doanh số cao nhất năm 2010 chỉ đóng góp 49,2 tỷ đồng, chiếm 10,08% tổng doanh thu toàn đơn vị.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến sức cạnh tranh của công ty chưa bứt phá bắt nguồn từ mô hình tổ chức quản lý trực tuyến - chức năng mang tính tập quyền cao, dẫn đến tình trạng quá tải ở cấp điều hành và thiếu tính chủ động giữa các bộ phận chuyên môn. Trong chính sách phân phối và xúc tiến, công ty đã chi 7,1 tỷ đồng cho xúc tiến thương mại năm 2010 nhưng phân bổ chưa cân đối khi quảng cáo chiếm tới 49,3% (3,5 tỷ đồng), trong khi hoạt động bán hàng cá nhân chỉ chiếm 14,1% (1,0 tỷ đồng).

Về chính sách giá, Mediplantex duy trì định giá thấp hơn từ 10% đến 40% so với đối thủ cạnh tranh cùng hoạt chất (đơn cử như viên nén Paracetamol 500mg có giá 900 đồng/viên so với mức 1.000 đồng/viên của Imexpharm). Tuy nhiên, việc thiếu hụt các sản phẩm đặc trị có hàm lượng công nghệ cao đã khiến giá bán rẻ không tạo ra được biên lợi nhuận đủ lớn để tái đầu tư. So sánh với xu hướng ngành, thị phần thuốc sản xuất trong nước của Mediplantex có chiều hướng thu hẹp trong giai đoạn 2008 - 2010, tương đồng với cảnh báo của các báo cáo ngành về nguy cơ các đơn vị trong nước mất dần lợi thế sân nhà nếu không kịp thời đổi mới công nghệ. Dữ liệu nghiên cứu được trình bày chi tiết qua biểu đồ cơ cấu nhân lực (cho thấy 26,97% có trình độ đại học trở lên trong tổng số 456 lao động) và bảng ma trận SWOT, phản ánh nhu cầu bức thiết phải cơ cấu lại danh mục 85 hoạt chất chủ lực.

           MÔ HÌNH SO SÁNH GIÁ VÀ CƠ CẤU CHI PHÍ XÚC TIẾN BÁN HÀNG
           
    [So sánh giá sản phẩm Paracetamol 500mg]
    Mediplantex (900 VNĐ)  : |==================| (100%)
    Imexpharm   (1000 VNĐ) : |====================| (111%)
    
    [Cơ cấu ngân sách xúc tiến thương mại 7,1 tỷ VNĐ năm 2010]
    Quảng cáo              : |========================| 49,3% (3,5 tỷ VNĐ)
    Khuyến mại             : |==============| 28,1% (2,0 tỷ VNĐ)
    Bán hàng cá nhân       : |=======| 14,1% (1,0 tỷ VNĐ)
    Quan hệ công chúng     : |====| 8,5% (0,6 tỷ VNĐ)

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao toàn diện sức cạnh tranh của công ty trên thị trường dược phẩm, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất triển khai:

  • Tái cấu trúc bộ máy tổ chức và chuẩn hóa quy trình quản trị: Ban Tổng Giám đốc chủ trì tiến hành phân định rõ chức năng, quyền hạn giữa 12 Trưởng phòng ban và 2 Giám đốc chi nhánh; chuyển đổi cơ chế quản lý sang mô hình phân quyền có kiểm soát, hoàn thành trong vòng 6 tháng nhằm mục tiêu nâng cao 20% hiệu suất xử lý luồng thông tin nội bộ và giải quyết nhanh các phản hồi từ thị trường.
  • Cơ cấu lại nguồn vốn và tăng cường kiểm soát an toàn tài chính: Phòng Tài chính - Kế toán phối hợp cùng Hội đồng Quản trị thực hiện đàm phán chuyển đổi một phần nợ vay ngắn hạn sang trung - dài hạn, đẩy mạnh thu hồi công nợ tồn đọng và tối ưu hóa vòng quay hàng tồn kho; đặt mục tiêu trong 12 tháng nâng hệ số thanh toán nhanh từ 0,04 lần lên mức an toàn tối thiểu 0,80 lần và đưa hệ số thanh toán nợ ngắn hạn từ 1,07 lần lên ngưỡng 1,50 đến 2,00 lần.
  • Gia tăng tỷ trọng đầu tư nghiên cứu và phát triển sản phẩm chuyên sâu: Hội đồng Quản trị ban hành nghị quyết tăng mức chi ngân sách cho hoạt động R&D từ 0,61% lên mức 2,5% đến 3,0% tổng doanh thu hàng năm (tương đương 12 đến 15 tỷ đồng) trong lộ trình 2012 - 2015; giao Phòng Nghiên cứu Phát triển tập trung nguồn lực phát triển các dạng bào chế đặc biệt như viên phóng thích kéo dài, thuốc đặt và chiết xuất hoạt chất tinh khiết từ nguồn dược liệu bản địa (Artemisinin, Berberin, Rutin).
  • Tái định vị chiến lược Marketing Mix và xây dựng sản phẩm mũi nhọn: Phòng Thị trường & Marketing cơ cấu lại ngân sách xúc tiến bán hàng, nâng tỷ trọng đầu tư cho đội ngũ trình dược viên và bán hàng cá nhân lên mức 25% tổng chi phí xúc tiến; triển khai chiến lược tập trung phát triển 3 đến 5 nhãn hiệu chiến lược có biên lợi nhuận cao, phấn đấu nâng mức đóng góp doanh số của nhóm sản phẩm chủ lực đạt trên 30% tổng doanh thu toàn công ty trong vòng 2 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp với 4 nhóm đối tượng sau:

  • Ban lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dược: Tiếp cận mô hình đánh giá sức cạnh tranh 10 chỉ số trọng số để rà soát toàn diện hoạt động vận hành, từ đó xác định chính xác các điểm nghẽn về tài chính, công nghệ và phân phối trong nhà máy đạt chuẩn GMP-WHO.
  • Chuyên viên phân tích tài chính và hoạch định chiến lược Marketing Dược: Khai thác các dữ liệu thực chứng về cơ cấu ngân sách xúc tiến 7,1 tỷ đồng, chiến lược định giá và các hệ số sinh lời (ROA, ROS) để thiết kế giải pháp cân bằng giữa kênh bệnh viện (ETC) và kênh nhà thuốc bán lẻ (OTC).
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế - quản trị kinh doanh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp luận nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính và định lượng, quy trình ứng dụng phần mềm EpiData 3.0 và SPSS 16.0 trong xử lý dữ liệu khảo sát chuyên gia.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội Dược Việt Nam: Tham khảo các phân tích thực tế về rào cản chuỗi cung ứng, mức độ tự chủ nguyên liệu và thị phần thuốc nội 48,03% để xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp dược quốc gia giai đoạn 2011 - 2020.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực cạnh tranh tổng thể của Mediplantex được định lượng bằng phương pháp nào?
Năng lực cạnh tranh của công ty được xác định thông qua phương pháp cho điểm chuyên gia có trọng số theo công thức chuẩn hóa. Hội đồng 30 chuyên gia quản lý tiến hành đánh giá 10 tiêu chí theo thang đo 5 điểm, kết hợp với các hệ số mức độ quan trọng gồm 0,15, 0,10 và 0,05, mang lại điểm số tổng hợp thực tế đạt 3,39 điểm.

Đâu là điểm nghẽn tài chính nghiêm trọng nhất được chỉ ra trong nghiên cứu?
Nghiên cứu chỉ ra rủi ro thanh khoản rất cao khi hệ số thanh toán nhanh năm 2010 chỉ đạt 0,04 lần và hệ số thanh toán nợ ngắn hạn là 1,07 lần. Đồng thời, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần giảm chỉ còn 0,77%, làm hạn chế nghiêm trọng khả năng tích lũy vốn tự có cho đầu tư mở rộng.

Lợi thế cạnh tranh lớn nhất về mặt sản xuất của công ty là gì?
Mediplantex sở hữu hệ thống hạ tầng sản xuất hiện đại với 2 nhà máy đạt chuẩn GMP-WHO công suất 500 triệu viên/năm, kho lưu trữ GSP 10.000 m2 và 86,13% sản phẩm có hạn dùng dài từ 3 đến 4 năm, tạo ưu thế kỹ thuật ổn định khi tham gia các gói đấu thầu cung ứng thuốc bệnh viện.

Vì sao danh mục sản phẩm của doanh nghiệp phong phú nhưng sức cạnh tranh chưa cao?
Doanh nghiệp đang vận hành 85 hoạt chất bao phủ 13 nhóm bệnh lý nhưng thiếu các sản phẩm mũi nhọn mang tính dẫn dắt. Thực tế 10 sản phẩm bán chạy nhất chỉ chiếm 10,08% tổng doanh số (đạt 49,2 tỷ đồng), chủ yếu là các dạng thuốc generic thông thường có giá trị gia tăng và biên lợi nhuận thấp.

Trình độ phát triển ngành dược Việt Nam được định vị thế nào trên trường quốc tế giai đoạn khảo sát?
Theo chuẩn phân loại của UNIDO, ngành công nghiệp dược Việt Nam nằm ở nhóm 3-4 và đạt cấp độ 3 theo thang đo của WHO, có khả năng sản xuất đa số thành phẩm generic từ nguyên liệu nhập khẩu nhưng chưa tự chủ được công nghệ hóa dược tổng hợp và nghiên cứu phát minh thuốc mới.

Kết luận

Nghiên cứu đã phác thảo bức tranh toàn cảnh và chân thực về thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương Mediplantex sau giai đoạn gia nhập WTO. Những kết quả trọng tâm rút ra từ luận văn gồm:

  • Điểm năng lực cạnh tranh tổng thể đạt 3,39/5,00 điểm, xếp loại trung bình và đòi hỏi phải có sự đổi mới chiến lược kịp thời.
  • Năng lực sản xuất là thế mạnh nổi trội với 4,09 điểm, sở hữu 2 nhà máy GMP-WHO công suất 500 triệu viên/năm và kho GSP 10.000 m2.
  • Khả năng thanh toán nhanh ở mức 0,04 lần và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu đạt 0,77% là những rủi ro tài chính hiện hữu.
  • Chi phí R&D chiếm 0,61% doanh thu và top 10 sản phẩm chỉ đóng góp 10,08% doanh số phản ánh tình trạng phân tán nguồn lực.
  • Đóng góp cốt lõi của đề tài là xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ từ tái cấu trúc tổ chức trong 6 tháng, kiểm soát dòng tiền trong 12 tháng, đến nâng ngân sách R&D lên 3,0% doanh thu trong 3 năm.

Các nhà quản trị doanh nghiệp và các chuyên gia kinh tế dược có thể ứng dụng ngay mô hình đánh giá và hệ giải pháp của công trình này để thiết lập chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế.