Chương 1 : Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Công nghệ Đông Dương. Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Công nghệ Đông Dương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nâng cao năng lực cạnh tranh là một trong những vấn đề đang được sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đã được công bố như: - Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Map Pacific Việt Nam đến 2015 – Luận văn thạc sỹ của Lê Lƣơng Huệ, Đồng Nai, 2011. Đề tài đã làm rõ được thực trạng của Công ty Map Pacific Việt Nam trong lĩnh vực kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trong bối cảnh cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, các tập đoàn nông dược đa quốc gia. Từ đó đề ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty đến năm 2015.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới tại tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt – Luận văn thạc sỹ của Phạm Phú Nghị, Hà Nội, 2010. Đề tài đã làm rõ được thực trạng của dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới tại tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt trước sự cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành có sẵn thị trường, các công ty nước ngoài có tiềm lực tài chính giai đoạn từ 2005 đến năm 2009. Từ đó đề ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty đến năm 2015 - Năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính viễn thông trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế – Luận văn thạc sỹ của Bùi Thị Sao , Hồ Chí Minh, 2007. Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong kinh doanh các dịch vụ viễn thông quốc tế của Việt Nam nói chung và của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) từ năm 2000 đến nay và triển vọng đến năm 2010.
Đề tài đã nêu bật được quá trình hình thành phát triển, thực trạng, đặc điểm như : Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) bao gồm 16 Ban chức năng và 98 đơn vị thành 4 viên. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, từ vị thế độc quyền trên thị trường viễn thông sang cơ chế cạnh tranh, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam với nhiều công ty có vốn nhà nước đã có sự chuyện mình để phù hợp với nền kinh tế. Qua đó Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thị trường viễn thông của Việt Nam. Từ những phân tích đó đề tài đã nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty viễn thông quốc tế - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
- Chiến lược cạnh tranh theo lý thuyết Michael E.Porter – TS Dƣơng Ngọc Dũng – Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Michael Porter là một tên tuổi lớn trong lĩnh vực chiến lược cạnh tranh. Là giáo sư chính thức của Đại học Kinh doanh Harvard Business School), ông đã có những đóng góp tích cực trong lĩnh vực kinh doanh của nước Mỹ nói riêng, và của thế giới nói chung. Với tư cách là chuyên viên tư vấn chiến lược cho nhiều thống đốc bang, thị trưởng, các giám đốc điều hành CEOs) cho nhiều quốc gia trên khắp thế giới, ông đưa ra những ý tưởng có sức nặng về lý luận và thuyết phục về thực tiễn.
Michael Porter khẳng định: Điều quan trọng nhất với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng được một lợi thế cạnh tranh bền vững (sustainable competitive advantage - SCA). Và để biện minh cho lập luận của mình, ông đã dẫn ra những khái niệm, những luận chứng thuyết phục, sâu sắc. Tài liệu đã trình bày những ý tưởng tuyệt vời của nhà chiến lược hàng đầu- Michael Porter về chiến lược cạnh tranh qua các phần : Kỹ thuật phân tích tổng quát, Môi trường kinh doanh tổng quát, Quyết định chiến lược. - Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - TS Vũ Trọng Lâm – Nxb Chính trị quốc gia.
Tài liệu phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, đề ra một số quan điểm và phương hướng, các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Những giải pháp mà tài liệu đưa ra có 4 nội dung lớn, đó là: Nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp; Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp; Cải thiện môi trường và điều kiện kinh doanh đối với doanh nghiệp; Phát triển các định chế hỗ trợ doanh nghiệp. 5 Tuy đã có khá nhiều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông như Công ty Cổ phần Công nghệ Đông Dương. Vì vậy, đề tài nghiên cứu không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào hiện nay.
Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 1. Lý luận cơ bản về cạnh tranh 1.1 Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về cạnh tranh. Ở mỗi thời kỳ mỗi giai đoạn phát triển của xã hội người ta lại có những nhìn nhận và đánh giá khác nhau về sự cạnh tranh. Marx “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa đẻ thu lợi nhuận siêu ngạch” (K.
Mac – Ăng Ghen toàn tập. NXB Sự thật). Theo từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về mình” (Adam J. Từ điển rút gọn về kinh doanh.
NXB Longman York Press). Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối mối quan hệ cung cầu, nhằm tranh giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” (Từ điển bách khoa, 1995. Hà Nội : NXB Từ điển Bách khoa). Hai nhà kinh tế học Mỹ P.D Nordhaus định nghĩa : “ Cạnh tranh ( Competion) là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”.
Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competion). Theo Michael Porter thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung 6 bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi” (Michael E.
Từ định nghĩa và cách hiểu không giống nhau như trên chúng ta có thể rút ra một điểm chung: Cạnh tranh là cố gắng giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Từ những định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, trong đề tài này xin đưa ra khái niệm cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng nhằm thu được lợi ích nhiều nhất cho mình. Cạnh tranh có bị ràng buộc trong một môi trường cụ thể mà các bên phải tuân thủ : đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý …vv. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều các công cụ khác nhau như : đặc tính và chất lượng sản phẩm, giá bán của sản phẩm, tổ chức các kênh phân phối, dịch vụ bán hàng, thông qua các hình thức thanh toán …vv.
―Cùng ngành nghề chứ không cùng lợi nhuận‖ cạnh tranh là sự tất yếu của thị trường‖ (Tục ngữ). Cạnh tranh là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cơ bản giữa các doanh nghiệp, chủ yếu có được từ quá trình đối kháng của sức mạnh này. Có thể khẳng định rằng cạnh tranh có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm ra con đường mới cho mình. Có như vậy mới đảm bảo được chỗ đứng của họ trên thị trường cạnh tranh khốc liệt.
Các cấp độ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, cấp ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm hàng hoá. Chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Năng 7 lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp. Năng lực cạnh tranh quốc gia : Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu.
Có rất nhiều cách hiểu về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Theo Asia Development Outlook 2003 là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế. Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó.