Chương 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Hoa Sơn Chương 4: Đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Hoa Sơn 4 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tình hình nghiên cứu Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trƣớc những thay đổi của thị trƣờng trong nƣớc và ngoài nƣớc đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu, có thể kể đến một số tác giả sau: - Tác giả Tạ Ngọc Ái (2009), “Chiến lƣợc cạnh tranh trong thời đại mới” với nội dung thƣơng trƣờng cũng nhƣ chiến trƣờng đây là cuộc chiến đấu không thể nhìn thấy, đầy những thủ đoạn và hình thức khác nhau. Muốn giành đƣợc thắng lợi, bạn phải nằm vững những kỹ xảo sinh tồn cao siêu và phải có khả năng ứng biến thông minh và kế sách đối nhân xử thế hoàn mỹ, tuy nhiên tài liệu của tác giả nêu lên chỉ nói chung chung chƣa đi sâu vào chi tiết vào từng nghành nghề từng khía cạnh của công việc.
- Tác giả Trần Sử (2006), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa” đã khái quát hóa các vấn đề về lý thuyết và năng lực cạnh tranh trong quá trình toàn cầu hóa. - Tác giả Trần Bảo An, Dƣơng Bá Vũ Thi và Trần Đức Trí (2014), “Đánh giá năng lực cạnh tranh của các khách sạn 4 sao trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế” đã nêu rõ khái niệm năng lực cạnh tranh và đánh giá chi tiết năng lực cạnh tranh của các khách sạn. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá năng lực cạnh tranh của các khách sạn trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế đạt chuẩn 4 sao theo quan điểm của các nhà chuyên môn và các công ty, đại lý lữ hành. Kết quả nghiên cứu đã xác định đƣợc năng lực cạnh tranh của các khách sạn theo các tiêu chí: Vị thế cạnh tranh, các phối thức thị trƣờng và các nguồn lực.
Bên cạnh những đóng góp có đƣợc, đó là đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn; nghiên cứu này vẫn có một số giới hạn, đó là: thứ nhất, nghiên cứu này chỉ đánh giá năng lực cạnh tranh của một số khách sạn 4 sao dựa trên việc điều tra các nhà chuyên môn và các công ty, đại lý lữ hành có quan hệ với các khách sạn; chƣa dựa vào việc kết hợp điều tra khách du lịch để đánh 5 z giá năng lực cạnh tranh của các khách sạn toàn diện hơn; thứ hai, nghiên cứu dựa trên 3 tiêu chí chung cho việc đánh giá năng lực cạnh tranh của khách sạn: Vị thế cạnh tranh các phối thức thị trƣờng, và nguồn lực; chƣa dựa vào việc đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên việc xây dựng các tiêu chí riêng cho lĩnh vực kinh doanh khách sạn (cụ thể là các khách sạn 4 sao). - Tác giả Nguyễn Viết Lâm (2014), “Bàn về phƣơng pháp xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam”. Bài viết bàn về phƣơng pháp và kỹ thuật xác định/đo lƣờng năng lực cạnh tranh của các doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết đƣợc bắt đầu bằng việc làm rõ bản chất của năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp, tiếp đến là phần trình bày quan điểm và chỉ ra mô hình tổng quát đƣợc sử dụng để xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, cuối cùng bài viết tập trung nghiên cứu đề xuất hệ thống các chỉ tiêu, yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam cùng với những phƣơng pháp xác định/đo lƣờng giá trị cũng nhƣ tầm quan trọng của các chỉ tiêu đó.
Tuy nhiên bài viết giới hạn lại vấn đề quan điểm về năng lực cạnh tranh và phƣơng pháp, công thức xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết còn hạn chế đƣa ra các vấn đề thực trạng năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay và thiếu các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh. - Tác giả Trần Thị Huỳnh Loan (2011), “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Đồng Tiến đến năm 2015” đã nói rõ về khái niệm về cạnh tranh, các chỉ tiêu xác định năng lực cạnh tranh và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty. Nhƣng chƣa nêu đƣợc các phƣơng pháp xác định thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của tác giả chỉ đến năm 2015.
Đề án chƣa đáp ứng đƣợc sự phát triển của các doanh nghiệp hiện nay. Mặc dù có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề cạnh tranh trong các doanh nghiệp, nhƣng chƣa có một đề tài nào nghiên cứu sâu sắc từ khái niệm cho tới các phƣơng pháp xác định năng lực cạnh tranh đồng thời chƣa có giải pháp phù hợp cho việc nâng 6 z cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp hiện nay nói chung và cho công ty Hoa Sơn nói riêng cũng nhƣ về lĩnh vực sản xuất gạch ngói, đất sét nung. Vì vậy cần có những nghiên cứu cụ thể cho công ty dựa trên những nền tảng mà các tác giả đã nghiên cứu để áp dụng thực tế vào Công ty TNHH Hoa Sơn. Từ đó đề ra các giải pháp cụ thể cho Công ty TNHH Hoa Sơn để nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành sản xuất, cung cấp gạch.
Lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.Khái niệm về cạnh tranh, NLCT và lợi thế cạnh tranh 1.Khái niệm cạnh tranh. - Theo Carl Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. - Theo Samuelson và Nordhaus (2011) cho rằng: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trƣờng. Họ còn đồng nhất cạnh tranh với cạnh tranh hoàn hảo.
- Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005): Cạnh tranh trong thƣơng trƣờng không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh của mình”. - Theo Michael Porter (2009) thì: Cạnh tranh là giành thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Theo tác giả thì cạnh tranh là quá trình một chủ thể nỗ lực vƣợt qua đối thủ của mình để đạt đƣợc một hay một số mục tiêu nhất định. Cụ thể với luận văn của tác giả thì cạnh tranh là quá trình nâng cao chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ với khách hàng vƣợt qua các đối thủ nhằm tăng thị phần, lợi nhuận cho doanh nghiệp 7 z 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo Michael E.Porter (2009): NLCT là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận. Theo Trần thị Huỳnh Loan (2011): NLCT là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực và các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh trƣớc đối thủ, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị trƣờng. Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005): NLCT là việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của DN. Theo tác giả thì NLCT của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lƣới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Các công cụ cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trƣờng, một doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép từ các đối thủ cạnh tranh. Để tồn tại và phát triển đƣợc trong điều kiện nhƣ vậy, mỗi doanh nghiệp có những công cụ riêng của mình để tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác trên thị trƣờng. Các công cụ thƣờng đƣợc sử dụng là: sản phẩm, giá cả, xúc tiến bán hàng, nghệ thuật phân phối, dịch vụ khách hàng, uy tín.
Cạnh tranh bằng đặc tính sản phẩm và chất lượng sản phẩm Khi nói về sản phẩm, ngƣời ta thƣờng quy nó về một hình thức tồn tại vật chất cụ thể và do đó nó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể quan sát đƣợc. Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sản phẩm - hàng hoá ở một phạm vi rộng lớn hơn. Cụ thể là: sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách hàng bao gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo. 8 z Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lƣợng.
Theo ISO 8402, chất lƣợng là tập hợp các tính chất, đặc trƣng của một sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Nhu cầu của khách hàng là nhu cầu đã nêu hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Sản phẩm và chất lƣợng của sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trƣờng, bởi vì khách hàng luôn có xu hƣớng so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất. Ngƣời tiêu dùng thƣờng quan tâm trƣớc tiên đến chất lƣợng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, nhiều lúc họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao để có đƣợc sản phẩm tốt hơn.
Sản phẩm đƣợc doanh nghiệp sử dụng làm công cụ để tăng khả năng cạnh tranh bằng cách làm ra các sản phẩm có chất lƣợng cao nhằm phục vụ một cách tốt nhất nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, hoặc là tạo ra sự khác biệt để thu hút khách hàng. Mặt khác doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lƣợng càng cao thì uy tín và hình ảnh của nó trên thị trƣờng cũng càng cao. Đồng thời chất lƣợng sản phẩm tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với các nhãn hiệu của doanh nghiệp. Vì vậy nó tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn và lâu dài cho doanh nghiệp trƣớc các đối thủ cạnh tranh.
Chính vì vậy việc kiểm tra chất lƣợng sản phẩm là rất cần thiết.