phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục thì đề tài đƣợc bố cục thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Học viên: Bùi Thị Quyên 3 Khoa Kinh tế & Quản lý Khoá: 2011- 2013 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trƣờng Đại Học Bách Khoa Hà Nội CHƢƠNG I NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 1.1 Khái niệm về văn hoá Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Nhƣng mãi đến thế kỷ XVII, nhất là vào nữa cuối thế kỷ XIX trở đi, các nhà khoa học trên thế giới mới tập trung vào nghiên cứu sâu về lĩnh vực này. Bản thân vấn đề văn hóa rất đa dạng và phức tạp, nó là một khái niệm có một ngoại diện rất lớn (có nhiều nghĩa).
Do đó, sẽ có nhiều quan niệm xung quanh nội dung thuật ngữ văn hóa. Năm 1952, hai nhà nhân văn học ngƣời Mỹ là A.Kluchohn trong tác phẩm Tổng luận các quan điểm và định nghĩa văn hóa đã thống kê đƣợc 164 định nghĩa về văn hóa và cho đến nay con số này đã tăng hơn 400. Việc có nhiều khái niệm văn hóa khác nhau không có gì đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm vấn đề đƣợc hiểu biết phong phú và toàn diện hơn - Theo nghĩa gốc của từ Tại các quốc gia phƣơng Tây, văn hóa – culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng Đức), …. đều xuất xứ từ tiếng La tinh, đó là từ “Cultus”, có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lƣơng thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng.
Sau đó từ cultus đƣợc mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo, phát triển mọi khả năng của con ngƣời và hoàn thiện các giá trị tinh thần, trí tuệ cho con ngƣời Ở phƣơng Đông, trong tiếng Hán cổ, từ bao hàm ý nghĩa là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con ngƣời có thể đạt đƣợc bằng sự tu dƣỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ hóa trong văn hóa là việc đem cái (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hóa, giáo dục và . Vậy, văn hóa chính là nhân hóa hay nhân văn hóa. Nhƣ vậy, trong từ nguyên của cả phƣơng Đông và phƣơng Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con ngƣời (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài ngƣời), cũng có nghĩa là là .
Học viên: Bùi Thị Quyên 4 Khoa Kinh tế & Quản lý Khoá: 2011- 2013 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trƣờng Đại Học Bách Khoa Hà Nội - Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu Căn cứ vào đối tƣợng mà thuật ngữ “văn hóa” đƣợc sử dụng để phản ánh – ba cấp độ nghiên cứu chính về văn hóa đó là: + , văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Loài ngƣời là một bộ phận của tự nhiên nhƣng khác với các sinh vật khác, loài ngƣời có một khoảng trời riêng, một thiên nhiên thứ hai do loài ngƣời tạo ra bằng lao động và tri thức – đó chính là văn hóa. Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con ngƣời, giúp loài ngƣời hình thành và sinh tồn nhƣ không khí, đất đai, … thì văn hóa là cái nôi thứ hai – nơi ở đó toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của loài ngƣời đƣợc hình thành, nuôi dƣỡng và phát triển. Nếu nhƣ con ngƣời không thể tồn tại khi tách khỏi giới tự nhiên thì cũng nhƣ vậy, con ngƣời không thể trở thành “ngƣời” theo đúng nghĩa nếu tách khỏi môi trƣờng văn hóa.
Đây chính là những năng lực và bản chất của con ngƣời nhằm hoàn thiện con ngƣời, hƣớng con ngƣời khát vọng vƣơn tới chân – thiện – mỹ và khả năng sáng tạo chân – thiện – mỹ trong đời sống. Với ý nghĩa ấy, một số tổ chức và nhà học giả đã đƣa ra một số quan niệm về văn hóa theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất và nhìn chung, số đông học giả đều nhìn nhận văn hóa là tri thức, là lối sống, là lối ứng xử mà con ngƣời học tập đƣợc trong suốt quá trình từ khi sinh ra cho đến khi trƣởng thành để trở thành thành viên trong một xã hội, trong một tổ chức. Với quan niệm xem văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, khái niệm văn hoá đƣợc mở rộng hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ vì mục đích cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng tiện, phƣơng thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Chúng ta thấy từ trong quan niệm của Hồ Chí Minh toát lên một cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hóa, về phạm vi rộng lớn của văn hóa, về mặt biểu hiện của văn hóa trong lối sống và toàn bộ sinh hoạt của con ngƣời. Học viên: Bùi Thị Quyên 5 Khoa Kinh tế & Quản lý Khoá: 2011- 2013 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trƣờng Đại Học Bách Khoa Hà Nội + , văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con ngƣời. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, vật l ý học, hóa học, …) và văn hóa nghệ thuật (văn học, điện ảnh, …) đƣợc coi là hai phân hệ chính của hệ thống văn hóa.
+ , văn hóa đƣợc coi nhƣ một ngành – ngành văn hóa – nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế – kỹ thuật khác. Cách hiểu này thƣờng kèm theo cách đối xử sai lệch về văn hóa: Coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động đứng ngoài kinh tế, sống đƣợc là nhờ trợ cấp của nhà nƣớc và “ăn theo” nền kinh tế. Trong ba cấp độ phạm vi nghiên cứu kể trên về thuật ngữ văn hóa, hiện nay ngƣời ta thƣờng dùng văn hóa theo nghĩa rộng nhất. Loại trừ những trƣờng hợp đặc biệt và ngƣời nghiên cứu đã tự giới hạn và quy ƣớc.
- Căn cứ theo hình thức biểu hiện Văn hóa đƣợc phân loại thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng hơn, theo cách phân loại này văn hóa bao gồm văn hóa vật thể (tangible) và văn hóa phi vật thể (intangible). Các đền chùa, các di tích lịch sử, sản phẩm văn hóa truyền thống nhƣ tranh Đông Hồ, áo dài, … đều thuộc loại hình văn hóa vật thể. Các phong tục, tập quán hay bảng giá trị, các chuẩn mực đạo đức của một dân tộc … là thuộc loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy vậy, sự phân loại trên cũng chỉ có nghĩa tƣơng đối bởi vì trong một sản phẩm văn hóa thƣờng có cả yếu tố “vật thể” và “phi vật thể” nhƣ “cái hữu thể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau, nhƣ thân xác và tâm trí con ngƣời”.
Điển hình nhƣ văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên, ẩn sau cái vật thể hữu hình của nó gồm những cồng, những chiêng, những con ngƣời của núi rừng, những nhà sàn, nhà rông … là cái vô hình của âm hƣởng, phong cách và quy tắc chơi nhạc đặc thù, là cái hồn của thời gian, không gian và giá trị lịch sử. Nhƣ vậy, khái niệm văn hóa là một phạm trù có nội dung rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần đƣợc sử dụng làm nền tảng định hƣớng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vƣơn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mỹ trong mối quan hệ giữa ngƣời và ngƣời, giữa ngƣời với tự nhiên và môi trƣờng xã hội. Học viên: Bùi Thị Quyên 6 Khoa Kinh tế & Quản lý Khoá: 2011- 2013 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trƣờng Đại Học Bách Khoa Hà Nội 1.1 Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ của công sở Công sở là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nƣớc hoặc tổ chức công ích đƣợc nhà nƣớc công nhận. - Có vị trí pháp lý nhất định - Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể do nhà nƣớc quy định và chịu sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền - Nằm trong quan hệ theo thứ bậc để đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất và quan hệ ngang theo chức năng để đảm bảo phối hợp giữa các ngành, lĩnh vực với địa phƣơng, vùng lãnh thổ.
- Phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nƣớc và nhân dân, không vụ lợi. - Có các điều kiện và phƣơng tiện cần thiết để thực hiện công vụ. - Quản lý công vụ theo pháp luật - Tổ chức nhân sự, phối hợp công việc giữa các bộ phận trong công sở - Tổ chức công tác thông tin trong công sở và ngoài công sở - Nâng cao kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính, tổ chức công việc nền nếp, có hiệu lực và hiệu quả. - Cung cấp điều kiện, phƣơng tiện căn cứ vào đặc điểm lao động của từng loại công việc đƣợc phân công.
- Bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ an ninh trật tự, an toàn trong công sở. - Tổ chức kế toán thống kê. - Quản trị hậu cần.2 Khái niệm về văn hoá công sở Văn hóa công sở là toàn bộ những nhân tố vật chất và nhân tố tinh thần đƣợc công sở chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động, tạo nên bản sắc riêng của công sở đó. Học viên: Bùi Thị Quyên 7 Khoa Kinh tế & Quản lý Khoá: 2011- 2013 Luận văn Thạc sỹ QTKD Trƣờng Đại Học Bách Khoa Hà Nội 1.3 Tầm quan trọng của văn hóa công sở 1.1 Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, sự khác biệt trong văn hoá công sở là sức mạnh cạnh tranh của công sở đó trong tƣơng lai.
Mỗi công sở cần xây dựng cho mình một nền văn hoá công sở vững mạnh. Nó chính là bản sắc, là phong thái của công sở đó. Một nền văn hóa sẽ không thể đƣợc biết tới và đƣợc con ngƣời nhớ đến nếu nhƣ nó không có bản sắc riêng, không có những đặc điểm để phân biệt với những nền văn hóa khác.