Chương 1: Một số vấn đề lý luận về văn hóa chính trị đối với đội ngũ cán bộ công chức Chương 2: Thực trạng văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ công chức huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ công chức huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trong thời gian tới. 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC 1. Khái niệm văn hóa chính trị và đội ngũ cán bộ công chức 1. Cán bộ công chức Từ điển Tiếng Việt đã phân tích khái niệm cán bộ, cụ thể: Những người làm công tác trong cơ quan nhà nước có nghiệp vụ chuyên môn, làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ thì được gọi là cán bộ [42] Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế khu vực, thế giới và yêu cầu cải cách, hoàn thiện hệ thống chính trị của nước ta thì khái niệm cán bộ đang có sự phát triển, bổ sung nội hàm, phạm vi theo hướng phù hợp nhất với thực tiễn và đặc thù công việc của nhóm đối tượng này đang thực hiện.
Theo đó, giới hạn khái niệm cán bộ không chỉ dừng lại trong hệ thống chính trị, trong phạm vi tổ chức Đảng, chính quyền nhà nước, mặt trận tổ quốc, đoàn thể như hiện nay. Hiện nay, ở nước ta, khái niệm cán bộ được dùng với nhiều nghĩa khác nhau: Trong các tổ chức Đảng và đoàn thể khái niệm cán bộ thường được dùng với hai nghĩa: Một là,chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến trung ương (cán bộ lãnh đạo), để phân biệt với Đảng viên thường,đoàn viên, hội viên; Hai là, những người làm công tác chuyên trách hưởng lương trong các tổ chức Đảng, đoàn thể. Trong quân đội, là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung 8 đoàn, sư đoàn.) hoặc là sĩ quan từ cấp úy trở lên. Trong hệ thống bộ máy nhà nước, khái niệm cán bộ về cơ bản được hiểu trùng với khái niệm công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngành hành chính, tư pháp, lập pháp, kinh tế, văn hóa xã hội.
Công chức là một khái niệm khá phổ biến trên thế giới, khái niệm này dùng để chỉ những công dân của một quốc gia được tuyển dụng vào công tác trong cơ quan nhà nước thường xuyên và lương của họ do ngân sách nhà nước trả. Tuy nhiên khái niệm công chức mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào tính chất đặc thù của mỗi quốc gia cũng như từng giai đoạn lịch sử của từng nước. Do đó, trong thực tế rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia, thậm chí, ngay trong một quốc gia, ở từng thời kì phát triển khác nhau, thuật ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau. Ở nước ta, công chức là khái niệm được hình thành và phát triển dựa trên nền hành chính nhà nước.
Ở thời điểm hiện tại khái niệm công chức ở nước ta được quy định rõ ràng trong luật công chức 2016. Nếu chiểu theo các văn bản quy phạm pháp luật mà đặc biệt là luật cán bộ công chức 2008 thì cụm từ “cán bộ công chức hành chính” được dùng ở đây chưa thật chính xác, bởi lẽ trong luật có ghi và phân biệt rõ “cán bộ” và “công chức” là hai khái niệm riêng biệt vì vậy chúng không thể kết hợp được với nhau như khái niệm trên đã nêu ra. Tuy nhiên, từ lâu nay khái niệm cán bộ đã là một danh xưng đẹp để chỉ những người làm các công việc do Đảng, chính phủ và các đoàn thể giao phó. Vì vậy nếu xét trên bình diện ý thức xã hội thông thường và trên giác độ văn hóa thì ở đây khái niệm công chức hành chính hoàn toàn có thể nằm trong danh xưng cán bộ.
Từ cán bộ là cách xưng hô quen thuộc được chấp nhận rộng rãi trong đông đảo quần chúng nhân dân qua suốt một thời gian dài. Chính vì vậy mà đề tài đã sử dụng khái niệm “cán bộ 9 công chức hành chính”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta cũng đã đưa ra khái niệm cán bộ một cách hết sức gần gũi, dễ hiểu và thông dụng: “Cán bộ không chỉ là người lãnh đạo trong tổ chức mà còn là những người đem chính sách của đảng của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, họ là những cán bộ quân dân chính của các tổ chức do đảng lãnh đạo” [49]. Như vậy, trong khái niệm nêu trên thì đội ngũ cán bộ được mở rộng đó không chỉ là những người giữ các chức danh lãnh đạo (hay còn gọi là cán bộ chủ chốt) mà đó còn là đội ngũ những người trực tiếp thực thi công vụ của Nhà nước tại các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có bao gồm đội ngũ cán bộ, công chức hành chính, tuy nhiên sự kết hợp này chỉ mang ý nghĩa trong phạm vi đề tài này, không mang tính học thuật và pháp lý.
Khái niệm cán bộ đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý, đặc biệt là Luật cán bộ, công chức năm 2008, với những tiêu chí cụ thể để xác định một người là cán bộ như phải là công dân Việt Nam, những người này phảilà người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong Cơ quan, Tổ chức, Đơn vị thuộc cấp Trung ương, cấp Tỉnh, cấp Huyện và họ phải có đầy đủ những phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, trình độ chuyên môn… đáp ứng được yêu cầu của vị trí được bầu. Văn hóa chính trị Văn hóa chính trị là một bộ phận quan trọng của khoa học chính trị và nó được ra đời khi mà xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp, bắt nguồn từ chính sự thâm nhập của văn hóa vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có rất nhiều cách tiếp cận để làm rõ và luận giải văn hóa chính trị ở trên các giác độ khác nhau. Tuy nhiên ở trong phạm vi nghiên 10 cứu của đề tài này sẽ làm rõ văn hóa chính trị như một khái niệm học thuật của khoa học chính trị kể từ thời điểm chính trị trở thành một bộ môn khoa học độc lập.
Theo A-Almond và Sidney Verba thì văn hóa chính trị với tư cách là văn hóa chính trị của một quốc gia dân tộc: “văn hóa chính trị của một dân tộc là cách chia sẻ riêng của các thành viên của dân tộc ấy những dạng thức của sự định hướng quan tâm đến các khách thể chính trị.” [52] Định nghĩa của Werner J. Patzelt thuộc trường đại học Tổng hợp Passau (Đức) nêu ra trong cuốn giáo trình nhập môn khoa học chính trị (1992): văn hóa chính trị là những giá trị và tri thức, những quan điểm và thái độ của nhân dân, là những dạng thức của hành vi và sự tham dự chính trị, là những quy tắc công khai hoặc được mặc nhiên thừa nhận của quá trình chính trị, là những cơ sở thường nhật của hệ thống chính trị và là tập hợp của tất cả những gì thuộc về văn hóa và tập tục của của xã hội hiện tồn [72]. Văn hóa chính trị là một vấn đề chưa được đề cập nhiều đối với lý luận Mácxít. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa C.Mác-Lênin chưa đề cập nhiều đến khái niệm này, mặc dù nội dung của nó cũng đã được nêu ra và được xem là cơ sở cho sự hình thành khái niệm văn hóa chính trị Macxit [38] Ở Việt Nam tuy khoa học chính trị ra đời muộn nhưng ngay từ lúc mới ra đời văn hóa chính trị với tư cách là một bộ môn nghiên cứu của chính trị học đã thu hút được sự chú ý của nhiều học giả trong nước.
Căn cứ vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam cũng đã đưa ra một số khái niệm về văn hóa chính trị. 11 Có thể thấy rằng các khái niệm trên đều có điểm chung là nhấn mạnh đến sự thâm nhập và thẩm thấu của văn hóa vào chính trị, đều tuân thủ phép logic hình thức khi luận giải khái niệm loài - văn hóa chính trị từ khái niệm giống - văn hóa chung, coi chính trị chỉ được xem là văn hóa – văn hóa chính trị - khi gắn với trình độ, năng lực sáng tạo tích cực của con người trong chính trị, nhằm thúc đẩy cho sự phát triển tiến bộ xã hội. Căn cứ vào các nghiên cứu của các tác giả đi trước, cũng như dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này thì văn hóa chính trị có thể hiểu với ý nghĩa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần mà cốt lõi là các giá trị chính trị tiến bộ được các chủ thể giác ngộ và vận dụng vào trong lĩnh vực chính trị. Để hiểu thêm về văn hóa chính trị thì cần phải tiếp tục làm rõ cấu trúc của nó với hai góc độ tiếp cận: văn hóa chính trị với tư cách là chủ thể chính trị, văn hóa chính trị với tư cách là hệ giá trị.
Thứ nhất, văn hóa chính trị với tư cách là hệ thống các giá trị chính trị: - Tri thức và sự hiểu biết chính trị là giá trị nền tảng của văn hóa chính trị được định lượng một cách phổ biến bởi tri thức chính trị, là tổng hòa của tri thức lý luận chính trị và kinh nghiệm chính trị thực tiễn, hai yếu tố này có mối quan hệ thống nhất hỗ trợ và tương tác lẫn nhau. - Niềm tin và tình cảm chính trị được hình thành dựa trên cơ sở tri thức khoa học, là sự hiểu biết về chính trị cũng như sự chứng kiến, bị tác động bởi các quá trình chính trị đang diễn ra để từ đó chủ thể bộc lộ những tình cảm yêu ghét, tin tưởng, sự đánh giá nhận định của cá nhân đối với lý tưởng, chế độ chính trị, nhà nước, đối với các cơ quan lãnh đạo, các nhà lãnh đạo… 12 - Mỗi một loại hình văn hóa chính trị trong lịch sử đều nhằm phục vụ lý tưởng, lợi ích của giai cấp đã sáng tạo ra nó.