Chương 1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG NINH KHÁNH 1. Những vấn đề chung 1. Văn hóa Văn hóa là một khái niệm phức tạp và hết sức đa nghĩa, đến nay có rất nhiều các tổ chức, các nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tùy theo cách tiếp cận và điều kiện lịch sử cụ thể mà đưa ra quan niệm, từ đó làm rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa nghiên cứu nhằm phục vụ cho mục đích của mình.
Quan niệm về văn hóa được E. Taylor đề cập trong công trình Văn hóa nguyên thủy (1871) trở thành định nghĩa đầu tiên về đối tượng nghiên cứu của văn hóa. Theo ông, “văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc người học, nó cũng bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [12, tr. Theo các nhà triết học: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội và đặc trưng cho trình độ đạt được trong quá trình phát triển lịch sử của xã hội” [25, tr.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, thì văn hóa chỉ gắn liền với con người và xã hội loài người. Cội nguồn của sự tồn tại phát triển văn hóa là ở hoạt động sáng tạo của con người. Lênin là người kế tục sự nghiệp của Các Mác và Ph. Ăngghen từ quan điểm xem xét văn hóa với tư cách là sự phát triển bàn chất của con người đã nhấn mạnh, phân tích sâu 10 thêm mặt xã hội của văn hóa với tư cách tiếp cận từ hình thái kinh tế.
Trong đó, ông nhấn mạnh tính nhân loại, tính giai cấp, tính kế thừa của văn hóa. Đặc biệt xem cách mạng văn hóa như một bộ phận hữu cơ của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng – toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [22,tr. Theo quan điểm của Người, văn hóa là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra, ở đâu có con người, quan hệ giữa con người với con người thì ở đó có văn hóa.
Bản chất của văn hóa có tính người và tính xã hội. Con người có thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy và cảm thấy bằng các cách khác nhau của một nền văn hóa, một thời đại, một giá trị văn hóa do chính con người tạo ra. Dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần thì cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích cuộc sống. Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [31, tr.
Khía cạch khác, học giả Đào Duy Anh cho rằng: “ Văn hóa của một dân tộc, trước hết liên quan đến điều kiện địa lý – khí hậu, sau đó là sự biến đổi của các hoạt động trên các phương diện khác nhau của dân tộc đó [1, tr. Ở đây, học giả đã giải thích văn hóa và cách thức sinh hoạt của con người, là toàn bộ hoạt động sống của con người. 11 Tác giả luận văn đồng tình với cách hiểu của thạc sỹ Hoàng Xuân Việt “Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại, thể hiện hành vi, trình độ ứng xử đối với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo ra những chuẩn mực, giá trị làm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người nhằm vươn tới cái chân, thiện, mỹ” [41, tr. Đời sống văn hóa Như chúng ta đã biết, văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, có ý nghĩa vì sự tồn tại của con người và xã hội.
Quan niệm văn hóa liên quan chặt chẽ đến đời sống văn hóa. Đời sống văn hóa là sự phản ánh biểu hiện tập trung nhất các mặt của văn hóa. Mỗi nhà khoa học khi nghiên cứu lại có cách tiếp cận khác nhau về văn hóa. Theo bài viết của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam có viết: “Đời sống văn hóa nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội” [39, tr.
Theo nghĩa hẹp, đời sống văn hóa chính là sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ những tác phẩm văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này biến các giá trị văn hóa tiềm tàng, hình thành những giá trị văn hóa hiện thực sao cho những giá trị văn hóa đó đi vào đời sống hàng ngày của mọi người trở thành một bộ phận hợp thành không thể tách rời, một thành tố thiết yếu của đời sống. 12 Trong công trình nghiên cứu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, tác giả Hoàng Vinh cho rằng: “Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại, (các sản phẩm văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh” [42, tr.
Định nghĩa cơ bản phản ánh được cấu trúc của đời sống văn hóa. Tuy nhiên, với cách hiểu này, khái niệm chưa phản ánh được mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành đời sống văn hóa và đặc biệt chưa đề cập đến những giá trị văn hóa. Tác giả Nguyễn Hữu Thức trong công trình nghiên cứu Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng văn hóa cho rằng: “Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động của các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới nâng cao chất lượng sống của chính con người” [32, tr. Quan niệm này hoàn chỉnh hơn quan niệm của tác giả Hoàng Vinh đưa ra, là một bước tiến trong nhận thức về khái niệm đời sống văn hóa.
Về một phương diện nào đó, đời sống văn hóa cũng chính là môi trường hoạt động văn hóa của con người. Văn hóa chính là đời sống. Ban đầu, nó là cái phân biệt giữa cá nhân con người và cộng đồng. Ý nghĩa của văn hóa chuyển dịch dần từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên sang mối quan hệ giữa con người và xã hội.
13 Đời sống văn hóa là một thực thể những hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của con người. Trong đó, các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu tinh thần, làm cho con người tồn tại với tư cách là một thực thể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn hóa. Xã hội càng tiến hóa, nhu cầu văn hóa và sự đáp ứng nhu cầu đó càng cao, thể hiện trình độ phát triển của con người. Các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, đó chính là hoạt động văn hóa.
Như vậy có thể hiểu: Đời sống văn hóa là tổng thể các hoạt động văn hóa trong quá trình sáng tạo, bảo quản, tiêu dùng, phổ biến các sản phẩm văn hóa và sự giao lưu văn hóa, kết quả cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của một cộng đồng. Đời sống văn hóa cơ sở Đời sống văn hóa cơ sở là sự tổng hòa các điều kiện vật chất, tinh thần, hoàn cảnh, các thiết chế văn hóa, hoạt động văn hóa, các sản phẩm văn hóa … ở đơn vị cơ sở được con người nhận thức và thực thi một cách tự giác, có định hướng nhằm xây dựng một đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân trên các địa bàn dân cư. Đời sống văn hóa ở cấp cơ sở là một yếu tố tiên quyết góp phần quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở từ lâu đã là một nhiệm vụ chiến lược, một chủ trương lớn của Đảng được xây dựng thành những chương trình phát triển văn hóa lâu dài cho cộng đồng dân cư ở cấp cơ sở.
Đây không chỉ là một loại công tác cụ thể, một loại hoạt động của thiết chế văn hóa chuyên môn nào đó mà xây dựng đời sống văn hóa cơ sở còn là lĩnh vực hoạt động tổng hợp của nhiều chuyên ngành văn hóa, giáo dục, chính trị… hướng về cơ sở để xây dựng một đời sống văn hóa tốt đẹp cho người dân. 14 Theo tinh thần của Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, đơn vị cơ sở là công trường; nông trường; lâm trường; nhà máy; đơn vị lực lượng vũ trang; công an nhân dân; cơ quan; trường học; bệnh viện; cửa hàng; hợp tác xã; làng xã; phường; ấp; bản; vùng dân cư; gia đình; họ tộc… Về bản chất, đây là hình thái đầu tiên của sự quy tụ xã hội nằm trong tầng cấu trúc nền tảng của xã hội. Đồng thời, đó cũng là toàn bộ những hình thái liên kết xã hội về vật chất và tinh thần để các cá nhân sinh tồn. Như vậy, có thể thấy, đơn vị văn hóa cơ sở là những cộng đồng dân cư có địa bàn sinh sống ổn định với đơn vị cư trú là làng, xóm, ấp, bản, tổ dân phố; các đơn vị hành chính; đơn vị sự nghiệp… có bộ máy tổ chức hành chính, kinh tế - xã hội hoàn chỉnh.