Tổng quan nghiên cứu
Thị trấn Tứ Kỳ thuộc huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương có diện tích tự nhiên 490,2 ha với quy mô dân số ghi nhận vào tháng 3 năm 2019 là 2.368 hộ và 7.422 nhân khẩu. Nằm tại vị trí trung tâm hành chính, kinh tế và văn hóa của toàn huyện, thị trấn sở hữu mật độ dân số 1.373 người/km² cùng 3,25 km đường tỉnh lộ 391 chạy qua. Đây là điều kiện lý tưởng thúc đẩy giao thương nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với công tác bảo tồn, phát triển văn hóa trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế thị trường và sự biến đổi các giá trị đạo đức, lối sống, cũng như tính bền vững của các thiết chế văn hóa truyền thống tại một địa bàn bán đô thị.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn hóa cơ sở, đánh giá toàn diện thực trạng triển khai phong trào xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2010 đến năm 2018, từ đó xác lập hệ thống 6 nhóm giải pháp trọng tâm cho giai đoạn tiếp theo. Phạm vi khảo sát tập trung tại không gian địa lý của 4 khu dân cư được thành lập từ năm 2010 gồm: La Tỉnh Bắc, La Tỉnh Nam, An Nhân Đông và An Nhân Tây. Ý nghĩa của nghiên cứu được thể hiện rõ nét qua các chỉ số thực chứng: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,5%/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm ấn tượng từ 17,5% năm 2002 xuống 7,3% năm 2012 và chỉ còn 5,2% vào năm 2018. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn xác đáng giúp chính quyền cơ sở tối ưu hóa quy trình quản trị, thúc đẩy an sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hơn 7.000 cư dân địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai trường phái lý thuyết cốt lõi trong khoa học văn hóa và quản lý văn hóa:
- Lý thuyết cấu trúc đời sống văn hóa cơ sở của Giáo sư Hoàng Vinh: Đời sống văn hóa được định hình bởi sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố tĩnh tại gồm thiết chế văn hóa, sản phẩm vật thể và các yếu tố động thái gồm hành vi, hoạt động sáng tạo, hưởng thụ văn hóa của con người.
- Quan điểm quản lý môi trường và thiết chế văn hóa của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thức: Khẳng định đời sống văn hóa là phương thức con người tác động vào tự nhiên và xã hội nhằm tái tạo chuẩn mực chân, thiện, mỹ, loại bỏ các biểu hiện tha hóa đạo đức.
- Hệ thống quan điểm quản trị nhà nước theo Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Quyết định số 01/2000/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin, cụ thể hóa thành 5 nội dung cơ bản và 7 phong trào vận động quần chúng.
Mô hình nghiên cứu triển khai xoay quanh 4 khái niệm trung tâm:
- Văn hóa: Tổng thể giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng sáng tạo trong lịch sử.
- Đời sống văn hóa: Hiện thực sinh động các hoạt động tinh thần của con người trong thời gian rỗi và lao động.
- Đơn vị cơ sở: Không gian cư trú ổn định cấp xã, phường, thị trấn với các liên kết hành chính và huyết thống.
- Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở: Quá trình tổng hợp các biện pháp lãnh đạo, giáo dục và tổ chức thiết chế nhằm nâng cao dân trí, xây dựng lối sống văn minh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm các báo cáo thống kê định kỳ từ năm 2010 đến 2018 của Ủy ban nhân dân huyện Tứ Kỳ, Ủy ban nhân dân thị trấn Tứ Kỳ, văn kiện Đại hội Đảng bộ thị trấn lần thứ V cùng hệ thống dữ liệu khảo sát thực địa.
Phương pháp chọn mẫu kết hợp khảo sát toàn diện và phỏng vấn sâu định tính đa tầng:
- Cỡ mẫu và đối tượng: Nghiên cứu bao quát toàn bộ 2.368 hộ gia đình tại 4 khu dân cư; đồng thời thực hiện 45 cuộc phỏng vấn sâu đối với 8 cán bộ quản lý cấp huyện và thị trấn, 8 trưởng khu dân cư và ban công tác Mặt trận, 15 đại diện từ 64 dòng họ và 43 hội liên gia, cùng 14 người dân thuộc nhiều độ tuổi, ngành nghề.
- Lý do lựa chọn phương pháp: Việc tích hợp phân tích tài liệu thứ cấp với phỏng vấn sâu và quan sát tham dự cho phép khắc phục nhược điểm của các số liệu báo cáo hành chính thuần túy. Phương pháp tiếp cận liên ngành giữa văn hóa học, xã hội học và khoa học quản trị công giúp phản ánh trung thực biến đổi tâm lý, nếp sống của cư dân trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu lao động.
- Timeline nghiên cứu: Dữ liệu được thu thập và đối sánh xuyên suốt từ thời điểm chia tách địa giới hành chính năm 2010 đến tháng 3 năm 2019.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nền tảng nâng cao mức sống: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2010 - 2015 đạt 6,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển biến rõ rệt với ngành dịch vụ chiếm 39%, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 38%, nông nghiệp giảm xuống còn 23%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 20,1 triệu đồng/người/năm. Trong tổng số 4.300 người trong độ tuổi lao động, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 56% (2.200 lao động), tạo nguồn lực tài chính dồi dào cho các hoạt động văn hóa xã hội.
- Phát huy hiệu quả mô hình tự quản cộng đồng đặc thù: Toàn thị trấn duy trì hoạt động hiệu quả của 64 dòng họ văn hóa và 43 hội liên gia tự quản trên địa bàn 4 khu dân cư, thu hút hơn 1.120 hộ gia đình tham gia (chiếm 47,3% tổng số hộ). Các tổ chức tự quản này đã vận động nội bộ hàng chục tỷ đồng để khuyến học, hỗ trợ vốn phát triển sản xuất và giải quyết triệt để các mâu thuẫn tranh chấp từ cơ sở.
- Phục hồi và xã hội hóa hệ thống thiết chế tâm linh, tín ngưỡng: Thị trấn bảo tồn và nâng cấp thành công 15 cơ sở thờ tự gồm đình, chùa, miếu (làng An Nhân có 10 công trình, làng La Tỉnh có 5 công trình). Trụ sở hành chính Ủy ban nhân dân thị trấn được hiện đại hóa với 100% số phòng làm việc (12/12 phòng) trang bị máy vi tính kết nối internet phục vụ công tác điều hành phong trào.
- Tiến bộ vượt bậc trong nếp sống văn minh đô thị: 100% các khu dân cư đã thành lập tổ thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt định kỳ. Công tác đặt tên ngõ, đánh số nhà dọc các tuyến phố chính và đường tỉnh lộ 391 được hoàn thành cơ bản, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 17,5% năm 2002 xuống còn 5,2% năm 2018.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2018 có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ cột kép thể hiện tương quan thuận giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế (đạt bình quân 6,5%) và tỷ lệ giảm nghèo (từ 17,5% xuống còn 5,2%), kết hợp cùng bảng thống kê 7 nhóm tiêu chí nếp sống văn minh tại 4 khu dân cư.
Nguyên nhân cốt lõi tạo nên thành tựu là sự kiện toàn bộ máy chỉ đạo gồm 28 thành viên đại diện cho đầy đủ các ban ngành, đoàn thể, phát huy tối đa sức mạnh khối đại đoàn kết Mặt trận Tổ quốc và tính chủ động của hơn 2.300 hộ dân. So sánh với các nghiên cứu của Đinh Thị Thu Mai tại thành phố Hải Dương và Hoàng Văn Vinh tại huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh), thị trấn Tứ Kỳ thể hiện một nét đặc thù nổi bật: vừa giữ gìn được di sản làng nghề mây tre đan An Nhân truyền thống, vừa nhanh chóng thích ứng với mô hình kinh doanh phố thị của hơn 500 hộ dân bám trục đường tỉnh lộ 391.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế: công tác kiểm tra, đôn đốc ở một số thời điểm còn thiếu tính liên tục; hiện tượng hình thức trong bình xét danh hiệu gia đình văn hóa vẫn tồn tại ở mức độ nhất định; ý thức phân loại rác nguồn của một bộ phận người dân chưa thực sự cao.
Đề xuất và khuyến nghị
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và đổi mới phương thức tuyên truyền chính sách: Ủy ban nhân dân và Ban chỉ đạo phong trào thị trấn cần chuẩn hóa 100% chức danh công chức văn hóa - xã hội qua các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý văn hóa công giai đoạn 2019 - 2021; đa dạng hóa kênh tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh cơ sở và nền tảng số, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 95% hộ gia đình tiếp cận đầy đủ các quy định về chuẩn văn minh đô thị.
- Quy hoạch quỹ đất và xã hội hóa nguồn vốn xây dựng thiết chế văn hóa: Ban chỉ đạo phong trào cấp huyện và thị trấn cần phối hợp giải phóng mặt bằng, nâng cấp 100% nhà văn hóa khu dân cư đạt chuẩn trước năm 2023; thiết lập cơ chế huy động vốn đóng góp tự nguyện từ doanh nghiệp và nhân dân, bảo đảm tỷ lệ vốn xã hội hóa đạt tối thiểu 30% tổng mức đầu tư hạ tầng văn hóa - thể thao.
- Bảo tồn di sản làng nghề gắn kết phát triển du lịch trải nghiệm: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên chủ trì xây dựng đề án bảo tồn kỹ nghệ đan lát mây tre truyền thống tại làng An Nhân giai đoạn 2020 - 2025; kết nối tour tuyến tham quan 15 cơ sở thờ tự lịch sử, tạo việc làm phi nông nghiệp cho hơn 300 lao động nhàn rỗi tại địa phương.
- Nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra và chuẩn hóa quy trình bình xét danh hiệu: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tứ Kỳ phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc định kỳ hậu kiểm hàng năm tại 4 khu dân cư; kiên quyết loại bỏ bệnh thành tích, đưa tỷ lệ đánh giá hình thức xuống dưới 3%, bảo đảm danh hiệu gia đình văn hóa và khu dân cư văn hóa phản ánh đúng thực chất đời sống nhân dân.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền cấp xã, phường, thị trấn: Cung cấp cẩm nang thực tiễn về phương thức điều hành Ban chỉ đạo gồm 28 thành viên, bài học phân bổ nguồn lực và cách thức phối hợp nhịp nhàng giữa cơ quan hành chính với các đoàn thể quần chúng trên địa bàn 490,2 ha.
- Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý văn hóa, Xã hội học: Tài liệu tham khảo học thuật giá trị về khung phân tích đời sống văn hóa cơ sở, phương pháp tích hợp nghiên cứu định tính 45 mẫu phỏng vấn sâu với chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài gần một thập kỷ (2010 - 2018).
- Cán bộ Mặt trận Tổ quốc và ban tự quản khu dân cư: Tham khảo mô hình vận hành 43 hội liên gia và 64 dòng họ tự quản để khơi dậy tinh thần đoàn kết cộng đồng, ứng dụng trong công tác hòa giải cơ sở và huy động quỹ khuyến học khuyến tài.
- Các nhà hoạch định chính sách phát triển đô thị nông thôn: Cung cấp dữ liệu thực chứng về bài toán chuyển đổi sinh kế cho 2.100 lao động nông nghiệp trong bối cảnh thu hẹp đất canh tác, chuyển dịch cơ cấu thương mại - dịch vụ đạt 39%.
Câu hỏi thường gặp
Việc chia tách địa giới hành chính năm 2010 có ý nghĩa như thế nào đối với công tác xây dựng đời sống văn hóa tại thị trấn Tứ Kỳ?
Quyết định số 876/QĐ-UBND năm 2010 chia tách 2 thôn La Tỉnh và An Nhân thành 4 khu dân cư (La Tỉnh Bắc, La Tỉnh Nam, An Nhân Đông, An Nhân Tây) giúp thu hẹp quy mô quản lý hành chính, tạo điều kiện để các tổ tự quản sâu sát hơn tới từng hộ trong tổng số 2.368 hộ dân, nâng cao hiệu quả các phong tràu văn hóa.
Mô hình dòng họ và hội liên gia tự quản đóng vai trò gì trong quản trị an ninh và an sinh xã hội?
Toàn thị trấn có 64 dòng họ và 43 hội liên gia với hơn 1.120 hộ tham gia. Các tổ chức này đóng vai trò cầu nối hòa giải mâu thuẫn gia đình, hỗ trợ vay vốn sản xuất hàng chục tỷ đồng, đồng thời bảo đảm giữ gìn thuần phong mỹ tục, ngăn chặn tệ nạn xã hội tại cơ sở.
Cơ cấu kinh tế tác động như thế nào đến việc nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của người dân?
Tăng trưởng kinh tế đạt 6,5%/năm và tỷ lệ dịch vụ - công nghiệp chiếm tới 77% đã nâng thu nhập bình quân lên 20,1 triệu đồng/người/năm. Đời sống vật chất cải thiện trực tiếp thúc đẩy nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật, thể dục thể thao và tạo nguồn lực tài chính để trùng tu 15 di tích tín ngưỡng.
Đâu là rào cản lớn nhất trong công tác bình xét danh hiệu văn hóa tại địa phương?
Rào cản lớn nhất là tâm lý nể nang và bệnh thành tích ở một số tổ dân cư, khiến việc đánh giá danh hiệu gia đình văn hóa đôi lúc chưa phản ánh đúng tình trạng vi phạm quy ước nếp sống văn minh, đòi hỏi phải tăng cường kiểm tra giám sát liên ngành độc lập.
Địa phương đã thực hiện giải pháp gì để bảo vệ cảnh quan môi trường trong quá trình đô thị hóa?
Thị trấn đã thành lập các tổ thu gom rác thải chuyên trách tại 100% khu dân cư từ năm 2010, hoàn thành cắm biển ngõ phố dọc 3,25 km tỉnh lộ 391, đồng thời phát động phong trào toàn dân bảo vệ môi trường, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5,2%.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại địa bàn bán đô thị hóa, làm rõ các tiêu chí đánh giá chuẩn văn minh.
- Nghiên cứu phác họa bức tranh thực trạng sinh động tại 4 khu dân cư thị trấn Tứ Kỳ giai đoạn 2010 - 2018 với quy mô 7.422 nhân khẩu, khẳng định vai trò của 64 dòng họ và 43 hội liên gia tự quản.
- Các chỉ số thực chứng nổi bật ghi nhận: tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5%, tỷ lệ hộ nghèo giảm về mức 5,2%, bảo tồn vững chắc 15 công trình tâm linh tín ngưỡng.
- Đóng góp hệ thống 6 nhóm giải pháp hành động cụ thể, phân định rõ trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể và cộng đồng theo lộ trình 2019 - 2025.
- Chính quyền địa phương và các nhà quản lý văn hóa cần khẩn trương số hóa công tác quản trị, hoàn thiện thiết chế nhà văn hóa và nhân rộng các mô hình tự quản nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững toàn diện.