phần Mở đầu, Kết luận, ài liệu tham khảo và Phụ lục, luận 9 văn được kết cấu gồm 3 chương: hương 1: Một số vấn đề chung về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và thị trấn Tứ Kỳ. hương 2: hực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở thị trấn Tứ Kỳ. hương 3: iải pháp nâng cao hiệu quả việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở thị trấn Tứ Kỳ. 10 hương 1 Ộ Ố VẤ Ề VỀ XÂY DỰ Ố VĂ ÓA Ở VÀ Ị Ấ Ứ KỲ 1.
hững vấn đề chung về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 1. Một số khái niệm 1. Đời sống văn hóa rong đời sống của người iệt, văn hóa là thuật ngữ quen thuộc và được sử dụng khá phổ biến. ặc biệt, hiện nay văn hoá đang thẩm thấu vào trong mọi lĩnh vực của đời sống con người như: văn hoá ẩm thực, văn hoá giao thông, văn hoá nông thôn, văn hoá đô thị, văn hoá du lịch, văn hoá giao tiếp - ứng xử, văn hóa doanh nghiệp, văn hoá chính trị, văn hoá gia đình, văn hoá ngoại giao, văn hoá truyền thông….
Nhìn chung, văn hóa là một khái niệm được khá nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, đưa ra những cách hiểu khác nhau. hật khó để có thể tìm ra một định nghĩa chính xác, tuyệt đối về văn hóa. ăn hóa có thể được nhìn nhận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, trong đó một số nhìn nhận về văn hóa được nhấn mạnh: văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người (văn hoá sinh sản và nuôi dưỡng, văn hoá sản xuất và tiêu dùng sản phẩm vật chất, văn hoá sáng tạo, hưởng thụ các sản phẩm tinh thần); văn hoá là những giá trị mà con người tạo ra (các giá trị cấu trúc, các giá trị chức năng.); văn hoá là phương thức ứng xử của con người với môi trường sống ; văn hoá là tri thức, trình độ học vấn ; văn hoá là mô hình thiết chế xã hội … rên cơ sở kế thừa những quan điểm khác nhau về văn hóa ta có thể thấy rằng văn hóa là tổng thể nói chung những hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần, những chuẩn mực, phương thức thiết chế mà nhờ đó con người có thể vận thông để tồn tại và phát triển. Hay nói 11 cách khác: Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh.
ừ khái niệm văn hóa, nhìn về khái niệm “đời sống văn hóa”, có thể nói từ trước đến nay, khái niệm này cũng được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực văn hóa, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra những định nghĩa khác nhau. heo từ điển iếng iệt: ời sống là toàn bộ nói chung những hoạt động trong một lĩnh vực nào đó của con người, của xã hội. í dụ như đời sống văn hóa, đời sống tinh thần [42, tr.
Như vậy, đời sống là một khái niệm bao trùm, bao gồm toàn bộ các hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau. Nếu hiểu như vậy, đời sống văn hóa được hiểu là là toàn bộ những hoạt động trong lĩnh vực văn hóa của con người, của xã hội và đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội. Xem xét từ góc độ nhu cầu, tác giả Hoàng inh cho rằng đời sống văn hóa gắn liền với nhu cầu cơ bản của con người. ừ nhu cầu cơ bản trong cuộc sống con người hoạt động, sáng tạo, hưởng thụ ra các giá trị văn hóa (bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần) từ đó hình thành nên đời sống văn hóa của chính con người.
Như vậy, việc đáp ứng các nhu cầu văn hóa sẽ tạo nên đời sống văn hóa của một xã hội. Là một thành tố của đời sống xã hội nên đời sống văn hóa và đời sống xã hội có sự giao thoa với nhau. Song sự khác biệt là đời sống văn hóa gạn lọc dần những yếu tố phản tiến bộ của đời sống xã hội, nhằm đảm bảo các giá trị văn hóa được biểu hiện ở mức độ cao nhất. rong công trình nghiên cứu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta tác giả Hoàng inh nhấn mạnh về cấu trúc của đời sống văn hóa: 12 ời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó).
Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [50, tr. ới cái nhìn rộng về đời sống văn hóa, tác giả Nguyễn Hữu hức trong công trình Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa quan niệm: ời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [38, tr. ác giả còn có một quan niệm về đời sống văn hóa có nội dung khá tương đồng với quan niệm trên: “ ời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo quy luật của cái đẹp, của chuẩn mực giá trị hân, hiện, Mỹ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hóa của con người” [37, tr. ần đây tại hội thảo khoa học về “ ời sống văn hóa và môi trường văn hóa - lý luận và thực tiễn” (tháng 6/2015), tác giả inh hị ân hi đưa ra quan điểm: không nên hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng: đời sống văn hóa bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến các sản phẩm văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội vì như vậy khó có thể nghiên cứu thấu đáo.
Mặt khác nếu hiểu theo nghĩa rộng đó thì chúng ta đã đồng nhất đời sống văn hóa với “hoạt động sống”. o đó, theo tác giả chỉ nên hiểu đời sống văn hóa theo 13 nghĩa hẹp, từ đó tác giả đưa ra cách hiểu: “ ời sống văn hóa là tổng thể những hoạt động tinh thần của con người trong thời gian rỗi bao gồm quá trình sáng tạo, biểu hiện, truyền bá và thưởng thức những sản phẩm văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hoàn thiện của con người” [14, tr. Như vậy, theo tác giả đời sống văn hóa được hiểu là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người trong những khoảng thời gian rỗi khi con người không bị thúc ép, áp lực mà hoàn toàn được thực hiện tự nguyện dựa theo sở thích, ý muốn cá nhân của chủ thể. Như vậy, với các cách tiếp cận và góc nhìn khác nhau các tác giả đã đưa ra những cách hiểu rộng, hẹp khác nhau về khái niệm “đời sống văn hóa”.
rong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đồng tình với quan niệm của các tác giả đi trước (đặc biệt của hai tác giả Hoàng inh, Nguyễn Hữu hức): ời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, là phức thể những hoạt động của con người trong sáng tạo, lưu giữ và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng sống của con người và xã hội. hính vì vậy, khi nói đến đời sống văn hóa là đề cập đến một phạm vi rộng, bao gồm hầu hết các hoạt động của con người gắn liền với lĩnh vực văn hóa: hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa, hưởng thụ, giữ gìn, bảo tồn và phát huy các sản phẩm văn hóa đó trên cả phương diện tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) và cả phương diện động thái (các dạng hoạt động văn hóa của con người). Đời sống văn hóa cơ sở rong thực tiễn đời sống hiện nay, đi cùng với cụm từ “ ời sống văn hóa” xuất hiện các cụm từ đi kèm như: đời sống văn hóa cộng đồng, đời sống văn hóa khu dân cư, đời sống văn hóa cơ sở. rong đó, thuật ngữ “ ời sống văn hóa cơ sở” đã được sử dụng trong ngành văn hóa từ năm 1982 14 nhưng không phải ai cũng có một quan niệm thống nhất về nó.
Ngay từ “cơ sở” được sử dụng khá quen thuộc, phổ biến nhưng lại mang nhiều hàm nghĩa khác nhau. ôi khi, “ ơ sở” được hiểu như là những gì cơ bản, là cái gốc, là nền tảng căn bản, căn cứ cho một lĩnh vực hoạt động, một tri thức nào đó. í dụ: cơ sở văn hóa iệt Nam, cơ sở ngành, môn học cơ sở.Ở một hàm nghĩa khác, “ ơ sở” thường gắn liền với một địa điểm, khu vực, địa chỉ.nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa của cộng đồng. Hoặc “ ơ sở” cũng có thể được hiểu là một địa bàn, một đơn vị hành chính, một tổ chức,…có cơ cấu hoàn chỉnh ở cấp cuối cùng của một hệ thống.
Khi xem xét về nghĩa của cụm từ này, một số nhà nghiên cứu đưa ra lý giải mang tính cụ thể hơn. ác giả Hoàng inh cho rằng: “ ơn vị cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của văn hoá. ó là những cộng dồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần, diễn ra trong đời sống hàng ngày [50, tr. hực chất, đơn vị cơ sở là hình thức tổ chức cơ bản của đời sống văn hoá.
ó là những cộng đồng dân cư có địa bàn sinh sống ổn định, có quan hệ chặt chẽ về kinh tế, văn hoá, xã hội và cả quan hệ huyết thống (đối với thiết chế gia đình và một bộ phận làng xóm ở nông thôn). Những cộng đồng dân cư này gắn kết với nhau một cách chặt chẽ trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần diễn ra trong đời sống hàng ngày [49, tr.