phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài bao gồm 3 chương 8 tiết. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1. Văn hóa chính trị và văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 1. Văn hóa chính trị * Văn hóa Để làm rõ khái niệm văn hóa chính trị, trước hết cần tìm hiểu khái niệm văn hóa.
Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ văn hóa trong khoa học (1774) là Pufedorf (một nhà nghiên cứu luật pháp người Đức) với nghĩa là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra và là đối lập với trạng thái tự nhiên. Nhưng khoa học về văn hóa thực sự được khai sinh ở Đức thế kỷ XIX. Mốc đánh dấu sự kiện này là năm 1885 khi cuốn Khoa học chung về văn hóa của Klemm được xuất bản. Trong đó, tác giả trình bày sự phát triển toàn diện của loài người như là sự phát triển của một cá thể đơn nhất.
Ở đây, lịch sử văn hóa được đồng nhất với lịch sử xã hội, cự tuyệt việc trình bày lịch sử như là lịch sử các vương triều. Cho đến nay, khi nhà văn hóa trở thành mối quan tâm hàng đầu của các loại hình nhận thức thì định nghĩa về văn hóa trở nên vô cùng phong phú.Derrida đã có câu nói đầy ấn tượng: “Văn hóa là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng đối với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó” [26, tr.28] Về mặt từ vựng, thuật ngữ “văn hóa” được dịch từ thuật ngữ “culture” của Anh – Pháp. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng La – tinh “culturs” – nghĩa gốc là “canh tác”, “trồng trọt”. Ở Trung Hoa nghĩa gốc Hán học của từ “văn” là cái đẹp, vẻ đẹp do màu sắc, đường nét tạo ra.
Văn hóa là làm cho trở nên đẹp, trở nên sáng, trở nên hiệu dụng đối với con người. 9 Theo cách tiếp cận hệ thống, văn hóa là một hoạt động sáng tạo, là hệ thống những giá trị do kết quả hoạt động sáng tạo của con người tạo nên. Tập thể các tác giả cuốn Từ điển Chính trị rút gọn của Liên Xô cho rằng: “Văn hóa là trình độ phát triển lịch sử nhất định của xã hội, là sức sáng tạo và khả năng của con người, được biểu hiện trọng các phương thức tổ chức đời sống và hoạt động sáng tạo của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên” [dẫn lại, 21, tr.226] Khởi nguồn quan niệm mácxít về văn hóa là tư tưởng của C.Ăngghen xuất hiện rải rác trong tác phẩm kinh điển xem văn hóa như là hình thức biểu hiện và là kết quả lao động của con người, sau này được V.Lênin phát triển và cụ thể khi bàn về cách mạng văn hóa. Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa được định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loại người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi của sự sinh tồn” [18, tr. Như vậy, có thể hiểu, văn hóa là phạm trù kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo nên trong lịch sử, là sự thể hiện trình độ phát triển nhất định của xã hội, trình độ phát triển năng lục và khả năng sáng tạo của con người biểu hiện trong các phương thức tổ chức đời sống xã hội, quan hệ xã hội….phản ánh toàn bộ đời sống của con người trong quan hệ với thế giới bên ngoài. *Chính trị 10 Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội kể từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và tổ chức thành nhà nước; là lĩnh vực phức tạp nhất, nhạy cảm nhất và có vai trò ngày càng tăng, từ thời cổ đại, chính trị đã được nhiều nhà tư tưởng quan tâm nghiên cứu.
Cho đến nay vẫn có những quan điểm khác nhau về phạm trù chính trị. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất: “chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như giữa các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và xã hội; là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, của các đảng chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đề ra nhằm thõa mãn lợi ích” [21,tr.13] *Văn hóa chính trị: VHCT là một bộ phận, một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp (có chính trị), nhưng điều đó không có nghĩa VHCT là phép cộng giản đơn giữa văn hóa với chính trị, mà đó là sự thẩm thấu, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau giữa văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa. Vì vậy, VHCT là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng lớn. Xênôphôn (427 – 355TCN) với những quan điểm vể thủ lĩnh chính trị đã phác họa nên những tiêu chí giá trị VHCT của những lãnh tụ chính trị: giỏi kĩ thuật, giỏi thuyết phục, phục vụ những người mà anh ta chỉ huy, biết tập hợp lại và phát huy sức mạnh của mọi người….Những tiêu chí đó vẫn mang ý nghĩa thiết thực đối với việc hình thành nhân cách chính trị cho chủ thể lãnh đạo hiện nay.
Platon (428 – 347 TCN) và Aristôt (384 – 322 TCN) khi đưa ra quan niệm coi chính trị là khoa học và nghệ thuật, mặc dù triết lí chính trị - xã hội 11 của các ông còn nhiều hạn chế lịch sử nhưng vẫn chứa đựng hạt nhân hợp lý trong quan niệm vê VHCT. Khổng Tử (551 – 479 TCN) là một đại diện tiêu biểu cho những tư tưởng gia phương Đông cổ đại. Tư tưởng chính trị về “nhân và lễ”, “chính định danh phận”, tôn trọng người hiền, tư tưởng về giáo dục….hàm chứa nhiều giá trị văn hóa chính trị sâu sắc, vẫn mang ý nghĩa thời đại đối với VHCT phương Đông nói chung và VHCT Việt Nam nói riêng. Montexkiơ (1989 – 1755), trong các học thuyết về nguồn gốc nhà nước, về sự phân quyền, lý luận về chính phủ và Rutxô (1712 – 1778) với tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản, tư tưởng về chủ quyền tối thượng của nhân dân cũng đưa ra nhiều tư tưởng lớn về VHCT cùng với những giá trị trí tuệ, tài năng, quyền lực, nghĩa vụ….của các chủ thể chính trị.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm văn hóa chính trị là nhà chính trị học người Mỹ G. Trong bài “Các hệ thống chính trị so sánh” đăng trên Tạp chí Chính trị học, số 8, 1956, ông đã đề xuất thuật ngữ Văn hóa chính trị (political culture) và dùng nó để phân tích so sánh các chế độ chính trị. Nhiều người cho rằng, văn hóa chính trị với tư cách là một thuật ngữ trong khoa học chính trị xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng giữa thế kỷ XX, gắn với tên tuổi hai học giả Hoa Kỳ là Gabriel Almond và Sidney Verba. Bởi Gabriel Almond và Verba trong cuốn Văn hóa công dân (The Civic Culture) đã trình bày cách tiếp cận khoa học về VHCT bằng việc đưa ra một khuôn khổ lý thuyết chung, sau đó tiến hành khảo sát so sánh tại năm quốc gia khác nhau.
Hai ông cho rằng, có ba loại VHCT là: VHCT địa phương (Parochial), VHCT thần dân (Subject) và VHCT tham gia (Participant). Ba loại VHCT này kết hợp với nhau tạo thành văn hóa công dân. Hai nhà chính trị học Mỹ H.Paul đã đưa ra định nghĩa VHCT cho đến nay vẫn được nhiều người đồng tình: “Văn hóa chính trị là tập 12 hợp các lập trường và các xu hướng cá nhân của những người tham gia trong một hệ thống nào đó, là lĩnh vực chủ quan làm cơ sở cho hành động chính trị và làm cho hoạt động chính trị có ý nghĩa. Những định hướng cá nhân bao gồm một số thành tố; cụ thể là: - Định hướng nhận thức: Là hiểu biết đúng sai về các khách thể và các tư tưởng chính trị.
Những hiểu biết này có thể là hiểu biết trực quan về chính trị, cũng có thể là tư duy chính trị đã được khoa học hóa. - Định hướng tình cảm: đó là cảm giác về những mối liên hệ, sự lôi cuốn, về mâu thuẫn…với các khách thể chính trị nào đó. - Định hướng đánh giá: là ý kiến, nhận xét về khách thể trên cơ sở căn cứ vào những hệ thống giá trị và tiêu chuẩn để đánh giá.Lênin tuy chưa đưa ra khái niệm VHCT, nhưng trong hệ thống học thuyết của các ông đều toát lên những tư tưởng, quan điểm cơ bản vềVHCT trên mọi khía cạnh đời sống chính trị của giai cấp vô sản và nhân dân lao động như: vấn đề đấu tranh giành quyền lực, vấn đề cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; vấn đề xây dựng con người XHCN; vấn đề dân chủ XHCN… Các nhà lý luận Việt Nam cũng đang trong quá trình cùng nhau xây dựng một quan điểm đầy đủ về VHCT trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự có ý nghĩa xuất phát điểm cho quá trình tìm tòi, nghiên cứu vừa mới mẻ, vừa phức tạp này.
Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục các mục tiêu của VHCT theo cả mô thức dân tộc – khoa học – đại chúng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đồng thời Nguời xác lập quan hệ văn hóa – chính trị trên nền tảng dân tộc với nội dung XHCN trong giai đoạn cách mạng XHCN. VHCT được tạo lập trong quan hệ chính trị mới, mà trong những quan hệ đó đánh dấu sự 13 trưởng thành về nhân cách chính trị của nhân dân, làm gia tăng các khả năng sáng tạo của quần chúng nhân dân. Trên cơ sở quan điểm mang tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam đã đưa ra nhiều cách diễn đạt về khái niệm VHCT.