CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ 1. KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ, CÔNG TÁC CÁN BỘ 1. Một số khái niệm a) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến chỉnh thể, tổng quát mang tầm khái quát sâu sắc. Nhận thức được tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, ngay từ rất sớm Đảng ta đã đề cập đến khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951); Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982); Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991).
Đến năm 2001, trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đọc trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011), khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định một cách toàn diện và hệ thống những vấn đề thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng viết: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô Luan van 12 cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi[18, tr. b) Khái niệm cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh - Một số định nghĩa về cán bộ: Thuật ngữ "cán bộ" được du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam từ rất sớm. Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, thuật ngữ "cán bộ" thường dùng nhiều trong quân đội để phân biệt giữa người chiến sỹ với người lãnh đạo các cấp.
Về sau, "cán bộ" được dùng chủ yếu để chỉ những người tham gia hoạt động kháng chiến. Trong thực tiễn cách mạng ở nước ta qua hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ, từ "cán bộ" thường được nhân dân gọi với ý nghĩa trân trọng, tự hào và kính phục, nhất là đối với các chiến sỹ cách mạng. Theo Từ điển Tiếng Việt "Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức "[64, tr. 5] Theo Khoản 1 và Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 định nghĩa như sau "Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước"[47, tr.
Công trình nghiên cứu khoa học của Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, định nghĩa: "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động Luan van 13 của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức"[57, tr. Mặc dù, có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung, cán bộ được hiểu là những công chức, viên chức nhà nước, có chức vụ trong một cơ quan, làm việc trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị; là những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Từ những đặc điểm chung đó, cán bộ được phân chia trên nhiều lĩnh vực, nhiều chức danh, cấp độ khác nhau. Trong từng loại cán bộ đều có quy định tiêu chuẩn, tiêu chí, chức năng và nhiệm vụ khác nhau.
- Quan niệm Hồ Chí Minh về cán bộ Hồ Chí Minh coi cán bộ giống như là dây chuyền của bộ máy. Trong tác phẩm "Sửa đổi làm việc" (10/1947), Người định nghĩa: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng"[37, tr. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ là một bộ phận cấu thành nằm trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung vừa mang tính cụ thể, gần gũi, dễ hiểu vừa thể hiện nhân cách, phẩm chất và vai trò của người cán bộ trong sự nghiệp cách mạng.
"Cán bộ" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là "cầu nối" giữa Đảng, nhà nước với nhân dân. Người cán bộ vừa là những người có trách nhiệm phục vụ Đảng, Nhà nước, vừa là những "công bộc" tận tụy phục vụ nhân dân. Cán bộ là những người đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả. Đồng thời qua đó nắm được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho đúng, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội và đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng Luan van 14 của quần chúng nhân dân, chứ không phải là người đứng trên hoặc đứng ngoài nhân dân.
c) Khái niệm công tác cán bộ trong tư tưởng Hồ Chí Minh Công tác cán bộ trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là tổng hợp các khâu từ việc đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bố trí sử dụng, cho đến chính sách cán bộ. Tất cả những khâu đó tác động biện chứng, tạo nên sự hoàn chỉnh, phong phú của tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ. Tư tưởng của Người về công tác cán bộ nhằm mục đích xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng cả về phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cách mạng. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ a) Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ Hồ Chí Minh luôn tâm niệm, cách mạng trước hết phải có một tổ chức, gồm những con người tiêu biểu làm đầu tàu để dẫn dắt cách mạng đi tới thành công.
Những con người đó là đội ngũ cán bộ luôn hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Thiếu đội ngũ cán bộ có bản lính chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng thì cách mạng khó có thể thành công, nhất là trong các bước ngoặt của cách mạng. Chính vì vậy, vấn đề cán bộ đã hình thành sớm trong tư tưởng của Người. Chúng ta có thể khẳng định, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ cũng chính là các yếu tố chi phối sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung.
* Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất nhà tan, thế giới có nhiều biến động sâu sắc. Với mong muốn tột bậc là "làm sao cho nước nhà được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn Luan van 15 áo mặc, ai cũng được học hành"[36, tr. 161], cùng bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc bấy giờ đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc. Muốn thực hiện được mục tiêu đó, đòi hỏi Hồ Chí Minh phải chuẩn bị đội ngũ cán bộ cách mạng, đủ sức tuyên truyền, vận động nhân dân làm cách mạng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ cũng dần được hình thành và phát triển từ đó. - Tình hình xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Với Hòa ước Giáp Thân năm 1884, triều đình nhà Nguyễn đã chính thức dâng Việt Nam cho thực dân Pháp xâm lược vô điều kiện. Triều đình đầu hàng, nhưng nhân dân Việt Nam thì không đồng tình với quyết định đó. Phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới ngọn cờ "Cần Vương" do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo theo hệ tư tưởng phong kiến, các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng dân chủ tư sản liên tiếp nổ ra vào những năm cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX đã gây ra nỗi khiếp sợ cho quân xâm lược.
Tuy nhiên, do đường lối cứu nước không đúng đắn, cuối cùng tất cả các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và dân chủ tư sản đều thất bại. Đó là nguyên nhân sâu xa làm cho Việt Nam khủng hoảng về đường lối cứu nước. Mặc dù Hồ Chí Minh rất quý trọng chí hướng cứu nước của các bậc tiền bối, nhưng người không tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc của họ. Phong trào cứu nước giải phóng dân tộc của nhân dân ta muốn giành thắng lợi phải đi theo một con đường mới.
Con đường đó nhất quyết không phải là "Ỷ Pháp cầu tiến bộ" như của Phan Chu Trinh, không phải chủ trương giành độc lập dân tộc bằng con đường sử dụng bạo lực mang tính manh động, cầu ngoại viện chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau" của Phan Bội Châu cũng không phải bằng cách dựng lại ngọn cờ phong kiến khi nó đã quá rách nát, lỗi thời, không hợp lòng dân. Luan van 16 Trong bối cảnh đó Người đã tự định ra cho mình một hướng đi mới: "Phải tìm hiểu rõ bản chất của những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái của nước cộng hòa Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, sẽ trở về giúp đồng bào mình"[32, tr. - Tình hình thế giới: "Trong khi con thuyền cách mạng Việt Nam còn lênh đênh chưa rõ bến bờ phải đi tới, việc cứu nước như trong đêm tối "không có đường ra" thì lịch sử thế giới có những chuyến biến to lớn"[6, tr.