Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE PHONG CÁCH CÁN BỘ TRONG TU TUONG HO CHi MINH 1.1, PHONG CACH VA PHONG CACH CAN BO 1. Quan niệm chung về phong cách Phong cách được hình thành, phát triển bắt nguồn từ thực tế đời sống của con người, cộng đông dân cư, dân tộc và nhân loại. Do đó, cách tiếp cận nghiên cứu về phong cách tương đối đa dạng, tùy theo cách tiếp cận của mỗi ngành khoa học, mỗi nhà nghiên cứu xã hội. Để tìm được thống nhất trong quan niệm về phong cách rất khó.
Với cách tiếp cân của để tài, phong cách được hiểu theo những khia cạnh cơ bản sau: Phong cách được hiểu theo nghĩa rộng tức là lễ lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ và phẩm cách của cá nhân hay lớp người được thể hiện ở lối sống, hành vi, ứng xử trong tắt cả các mặt hoạt động. Phong cách theo nghĩa hẹp, là cách thức riêng thể hiện ở các tác phẩm nghệ thuật của một tác giả, một thời đại, một vùng, xứ sở.: phong cách bao gồm phong độ, phẩm cách của con người (dáng vẻ, sắc thái bể ngoài; cách ứng xử, giao tiếp, sinh hoạt thể hiện những phẩm chất về tư tưởng, tình cảm, nội tâm bên trong của. con người). Theo Từ điền Tiếng Việt, phong cách được định nghĩa theo ba nội dung sau: 1- Phong cách là những lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái Ig của một người hay một loại người nào đó (nói tổng quát), Ví dụ như: phong cách lao động mới, phong cách lãnh đạo, phong cách quân nhân, phong cách sống gián dị; 2- Phong cách là những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sỹ hay trong các sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại (nói tổng quát).
Ví dụ: phong cách của một nhà văn, phong cách văn học nghệ thuật; 3- Phong cách là dạng của ngôn ngữ sử dụng trong những hoàn cảnh xã hội điển hình nào đó, khác với những dạng khác 10 về đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm. Ví dụ: phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (36, tr. Như vậy, khái niệm phong cách cỏ thể được hiểu theo nghĩa hẹp, là chỉ giới hạn trong văn học, nghệ thuật. Còn theo nghĩa rộng, được thẻ hiện trong tất cả các mặt hoạt động của con người.
Phong cách luôn là một cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ồn định và đặc trưng của chủ thể. Nó bị chỉ phối bởi các nhân tố như truyền thống văn hỏa, lối sống, thói quen, điều kiện sống, sự trải nghiệm thực tiễn, dấu ấn cá nhân. Phong cách không được sinh ra bẩm sinh mà chỉ có thể được hình thành bởi sự phin dau, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi không ngừng của chủ thể. Phong cách cán bộ * Quan niệm về cán bộ "Thuật ngữ cán bộ được sử dụng rộng rãi tại nhiễu quốc gia, nhưng ở nước ta, danh từ cán bộ được sử dụng phô biến từ sau cách mạng tháng Tám 1945.
Ban đầu danh từ này được dùng nhiều trong quân đội đẻ phân biệt chiến sĩ và cán bộ. Từ cán bộ dùng để chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên, dần dẫn từ cán bộ dùng để chỉ tắt cả những người hoạt động trong kháng chiến để phân biệt họ với nhân dân. “Trong đời sống xã hội, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tắt cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, được hưởng lương Theo Tir dién tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa như sau: “1- cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước (cán bộ nhà nước, cản bộ khoa học, cán bộ chính trị); 2- cán bộ là người làm công tác cỏ chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không cỏ chức vụ” 36, tr 121] Trong lĩnh vực Pháp luật, khái niệm cán bộ được định nghĩa cụ thể. Theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ Công chức 2008, cán bộ được định nghĩa như sau 1 1.
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bằu cử, phê chuẩn, bỗ nhiệm giữ chức vụ, chức đanh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung. ương (sau đây gọi chung là cấp tinh), ở huyện, quận, thị xã, thành phô thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hướng lương tử ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trần (sau đây gọi chung là cắp xã) lả công dân Việt Nam, được bằu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cắp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức. danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nha nude [41, tr-Š].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn để cán bộ được quan tâm đặc biệt Người đã chỉ rõ: *Cán bộ lả những người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho đân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của đân chúng, báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách vào cho đúng” [28, tr. Như vậy, trong quan niệm của Bác, cán bộ có sự gắn kết mật thiết, là cầu nối của Đảng, Chính phủ với nhân dân; cán bộ là đầy tớ, công bộc của nhân dân. Như vậy, có nhiều cách hiểu về cán bộ nhưng có thể nói rằng, cán bộ là một danh xưng tắt đẹp, đẩy niềm tự hảo và vinh dự trong nhân dân ta. Cán bộ là những người cỏ chức vụ, chuyên môn trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức.
chính trị - xã hội. Nói đến cán bộ lả nói đến một lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng. mọi gian khổ hy sinh cho cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân, gần gũi với dân chúng. * Vai trò, vị trí của người cán bộ Cán bộ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong các tô chức, trong hệ thống chính trị.
Nếu như Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị thì đội ngũ cán bộ công. chức là lực lượng nòng cốt vận hành cỗ máy hành chính nhà nước, giúp guồng máy. hành chính hoạt động thông suốt từ trung ương đến địa phương. Cán bộ là đội ngũ 12 có vai trò rắt quan trọng trong hệ thống chính trị và hệ thống hành chinh quốc gia, được xem như nguồn tài sản (nguồn vỗn) vô cùng quý báu của Đáng và dân tộc, “xương sống” của chính quyền; vì vậy, chất lượng của đội ngũ cán bộ có tính chất quyết định chất lượng của nền hảnh chính, hiệu quả công tác quản lý nhả nước và sự phát triển của quốc gia.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: cán bộ có vai trò quyết định đối với sự thành bại của cách mạng.LLênin đã khẳng định: Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào. tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trảo. Ở nước ta, Đăng, Nhà nước và Chủ tịch Hỗ Chí Minh rất coi trọng vai trỏ của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khăng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công vik 28, tr.
309]; án bộ là tiễn vốn của Đoàn thể. Có vốn thì mới làm ra lãi. Bat cứ chinh sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn” [29, tr.
Người còn nhắn mạnh: “Cán bộ là những người đem chỉnh sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dan ching hiểu rõ và thì hành. Đồng thời đem tỉnh hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho. Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [28, tr. 309), “Cán bộ tốt, việc gì cũng xong [28, tr.
Có thể nói, những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ là rat toàn diện, sâu sắc và nhất quán, là cơ sở để Đảng ta thực hiện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. 'Vận dụng tư tường Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của cán bộ, Đảng ta luôn đề cao vai trò cán bộ và công tác cán bộ, coi đó là một trong những vấn đề có tầm quan trọng chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Nghị quyết 03-NQ/TƯ” (ngày 18-6-1997) của Ban chấp hành Trung ương Đảng vẻ "Chiến lược cán bộ thời kỳ đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đắt nước” đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng 13 Đăng. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công đảo tạo, huấn luyện, xây dựng được một đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hỏa.
Nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phẩn thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa [3, tr. Như vậy, cán bộ có vị trí, vai trò quan trọng; cán bộ là nhân tổ quyết định sự thành bại của cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, cán bộ còn có vai trò là động, lực cho công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. * Phong cách của người cán bộ Phong cách cán bộ chính là con người cán bộ, là cách thức, phương pháp mà người cán bộ thể hiện đạo đức, phẩm chất, năng lực của mình trong quá trình công.
tác và cuộc sông. Phong cách của người cán bộ có quan hệ mật thiết với tư tưởng, đường lối và phương pháp cách mạng; tư tưởng, đường lối soi sáng, có ý nghĩa quyết định nhưng muốn thực hiện được phải có phương pháp đúng, khoa học để đưa đường lối vào cuộc sống, kết quả phụ thuộc vào phong cách của người cán bộ.