phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương Chƣơng I: Những vấn đề lý luận về vai trò của Quốc hội trong giám sát hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế ở Việt Nam. Chƣơng II: Kinh nghiệm của một số Quốc gia về hoạt động giám sát của Quốc hội trong quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế và thực tiễn hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam. Chƣơng III: Phương hướng và kiến nghị nâng cao vai trò giám sát của Quốc hội trong quá trình ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế. 8 z CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm về vai trò của Quốc hội trong giám sát hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ƣớc quốc tế. Giám sát Trong từ điển Tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” hoặc là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”. Cũng trong Từ điển tiếng Việt, “giám sát” còn được hiểu “là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại việc nhất định”. [32] Theo ngôn ngữ ở một số nước, “giám sát” được hiểu theo những khía cạnh chủ yếu sau: - Theo từ điển Tiếng Nga, “giám sát” được hiểu là “một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi người, việc nào đó cụ thể”.
[28] - Theo từ điển Tiếng Anh, “giám sát” được hiểu là “sự bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng theo quy định”. [29] Với cách tiếp cận này, khái niệm “giám sát” có nội hàm gồm hai yếu tố sau: + Hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra của một chủ thể nhất định; + Phương thức bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng theo quy định. Giám sát đầu tiên được hiểu là sự xác định tính chất đúng đắn của tình hình sự việc.[13] Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu về hoạt động giám sát của Quốc hội thì các nhà khoa học pháp lý cho rằng hoạt động giám sát không chỉ bao gồm một nghĩa là sự xác định trách nhiệm chính trị của đối tượng chịu sự giám sát hoặc còn bao gồm cả quyền xử lý các hành vi vi phạm phát hiện trong quá trình giám sát. Quyền giám sát của Quốc hội được các nhà khoa học pháp lý nước ngoài định nghĩa như sau: 9 z Theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu Pháp: “Sự giám sát của Quốc hội là tổ hợp các biện pháp cho phép nghị viện đưa ra nhận định về hoạt động của Chính phử và hạ bệ nó trong trường hợp có sự bất đồng sâu sắc với chính sách đã thực thi”.
[2] Còn theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu Nga thì: “Sự giám sát của Quốc hội là tổ hợp các biện pháp khác nhau do cơ quan lập pháp (đại diện) cao nhất của chính quyền nhà nước thực hiện để theo dõi thường xuyên và kiểm tra hoạt động của hệ thống, cũng như trừ bỏ những phát hiện từ sự kiểm tra đó và phòng ngừa những sai phạm có thể xảy ra”. [18] Như vậy, khái niệm “giám sát” dưới góc độ ngôn ngữ thông thường được hiểu là: việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để qua đó có được nhận định về hoạt động của chủ thể này. Từ nội dung khái niệm “giám sát” nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau: Thứ nhất, giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra đối tượng chịu sự giám sát, qua đó đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành; Thứ hai, để tiến hành hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra thì giám sát luôn phải gắn với một hoặc một số đối tượng cụ thể; Thứ ba, để có thể tiến hành được hoạt động giám sát thì chủ thể hoạt động giám sát phải có những quyền hạn, nghĩa vụ nhất định đối với đối tượng chịu sự giám sát; Thứ tư, để có thể đưa ra được nhận định về hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát thì việc giám sát phải được tiến hành dựa trên những quy định do chủ thể có quyền giám sát đặt ra; Thứ năm, giám sát luôn là hoạt động có mục đích. Mục đích của hoạt động giám sát là đưa ra những nhận định của chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát, qua đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm 10 z trái quy định của đối tượng chịu sự giám sát, bảo đảm cho những quy định của chủ thể có quyền giám sát được chấp hành đúng.
Vai trò giám sát tối cao của Quốc hội. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quyền lực nhà nước là một dạng quyền lực đặc biệt. Đó là quyền lực chính trị của một quốc gia gắn liền với ý chí của giai cấp cầm quyền, gắn với ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn xã hội, dân tộc, quốc gia.
Mỗi cách hiểu, mỗi góc độ tiếp cận về quyền lực nhà nước, cách thức và quan điểm về tổ chức quyền lực nhà nước, về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước đều có tác động và ảnh hưởng lớn tới vai trò, vị trí của những yếu tố cấu thành quyền lực nhà nước, trong đó quyền lực của Quốc hội là một yếu tố cấu thành. Trong lịch sử nhân loại đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền lực, trong đó đều thống nhất với nhau ở việc “quyền lực nhà nước được thể hiện ở việc quyền lực của một nhóm người đạt được sự thể hiện ý chí từ mình hoặc nhóm người khác, tức là một nhóm chủ thể áp đặt quyền lực lên toàn bộ xã hội và có quyền sử dụng những phương tiện cưỡng chế trong trường hợp có sự không tuân thủ từ phía đối tượng bị áp đặt quyền lực. Quyền lực nhà nước được thực hiện nhờ những thiết chế chính trị, trong đó Nhà nước là thiết chế chủ chốt, giữ vai trò trung tâm”. [10] Trên thế giới, mỗi loại mô hình nhà nước lại có cách thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau, từ mô hình nhà nước chính thể đại nghị (điển hình là Vương quốc Anh) luôn coi Quốc hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành Chính phủ, tới chính thể cộng hòa tổng thống (điển hình là hợp chủng quốc Hoa Kỳ) phân chia quyền lực nhà nước ở dạng tam quyền phân lập, cơ chế kìm chế đối trọng giữa Chính phủ và Quốc hội và mô hình nhà nước theo hình thức chỉnh thể hỗn hợp (điển hình là Cộng hòa Pháp) tổ chức quyền lực nhà nước là sự kết hợp của hai mô hình trên.
Tuy được tổ chức dưới những dạng khác nhau, nhưng nhìn chung Quốc hội là một phần không thể tách rời của hệ thống quyền lực nhà nước trong bất kỳ nhà nước dân chủ nào. Quốc hội luôn thể hiện được vai trò, vị trí không thể thay thế và nắm giữ một nhánh quyền lực nhất định. Có được vị trí này là nhờ bản chất, tính chất, các 11 z chức năng và thẩm quyền của Quốc hội thể hiện trong mối quan hệ tương hỗ với các nhánh quyền lực khác, đặc biệt là quyền hành pháp. Chức năng cơ bản của Quốc hội được phân biệt với các chức năng của các cơ quan nhà nước khác trong tổ chức bộ máy nhà nước đó là chức năng lập pháp.
Nhưng xuất phát từ vai trò đại diện nên cùng với chức năng lập pháp, chức năng giám sát với những quyền hạn và nhiệm vụ đặc thù của mình cũng đang trở thành một chức năng đặc thù của Quốc hội. Dù quyền giám sát của Quốc hội được hình thành và phát triển trên cơ sở nhu cầu nào, trong điều kiện nào thì thực tế cho thấy, hầu hết các mô hình nghị viện trên thế giới đều có quyền giám sát và được ghi nhận trong đạo luật có giá trị cao nhất là Hiến pháp và được coi là một chức năng cơ bản của Quốc hội. Về bản chất, hoạt động giám sát của Quốc hội là việc Quốc hội thu thập các thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan và tiến hành xem xét, đánh giá, thu thập thông tin thu được để từ đó có các biện pháp xử lý sau giám sát. Để tiến hành các hoạt động này, Quốc hội sử dụng những công cụ khác nhau để đạt những mục tiêu khác nhau.
Một số công cụ để giám sát về mặt nội dung, một số công cụ giám sát về mặt pháp lý, một số khác thì áp dụng ở mặt kinh tế. Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng cần giám sát mà Quốc hội lựa chọn công cụ giám sát thích hợp (có thể là chất vấn, điều trần, luận tội, xét báo cáo hoạt động, lập đoàn giám sát. Kết quả của hoạt động giám sát thể hiện quyền lực tập trung của Quốc hội, thể hiện quyết định tập thể của Quốc hội nhằm thay đổi, sửa đổi, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của các cơ quan hành pháp hoặc bãi nhiệm các chức vụ trong Chính phủ, bất tín nhiệm đối với Chính phủ. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nhân dân bầu ra Quốc hội trên nguyên tắc trực tiếp, phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Thông qua Quốc hội, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, các đại biểu Quốc hội với lá phiếu bầu của nhân dân họ sẽ thay mặt nhân dân thực hiện các chức năng của Quốc hội là lập 12 z hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng và giám sát tối cao trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước và xã hội. Hiến pháp, văn bản pháp lý quan trọng nhất của nước ta đã có những quy định cụ thể về quyền giám sát tối cao của Quốc hội. Từ Hiến pháp 1946, 1959, 1980 cho đến Hiến pháp 1992, quyền giám sát tối cao của Quốc hội luôn được thể hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp cả về phạm vi và đối tượng nhưng đều thể hiện được tính quyền lực cao nhất của Quốc hội, thể hiện ở việc quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp.
Quốc hội có quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước và có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.