phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sƣ phạm Mỹ thuật. - Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sƣ phạm Mỹ thuật. - Chƣơng 3: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu thực trạng tính sáng tạo trong hoạt động tạo hình của sinh viên ngành Sƣ phạm Mỹ thuật.thuat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thuat Chƣơng 1 Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Not Highlight TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH SÁNG TẠO Formatted: Font: 13 pt, Font color: TRONG HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CỦA SINH VIÊN Black, Not Highlight Formatted: Font: 13 pt, Font color: NGÀNH SƢ PHẠM MỸ THUẬT Black, Not Highlight Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Not Highlight 1.
Nghiên cứu về sáng tạo Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Not Highlight 1. Nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới Formatted: Font: 13 pt, Font color: Sáng tạo là một bản tính của con ngƣời và tồn tại lâu đời nhƣ bản thân nhân Black, Not Highlight Formatted: Font: 13 pt, Font color: loại. Tuy nhiên, hiện tƣợng này mới đƣợc chú ý nghiên cứu trong một vài thế kỷ Black, Not Highlight gần đây, chủ yếu giới hạn trong nghệ thuật và xoay quanh việc mô tả về những Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Not Highlight thiên tài xuất chúng, đặc biệt là các thiên tài âm nhạc. Formatted: Font: 13 pt, Font color: Các nhà khoa học, trƣớc hết là các nhà tâm lý học, đã phát hiện ra tính nhiều Black, Not Highlight mặt của sáng tạo, có bao nhiêu hoạt động của con ngƣời thì có bấy nhiêu dạng sáng Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Not Highlight tạo.
Có thể nói sáng tạo cũng có nhiều mặt, nhiều góc độ nhƣ chính bản chất con Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Not Highlight ngƣời (sinh lý, tâm lý, trí tuệ, xã hội, cảm xúc.) và nó cũng đƣợc xem xét theo mọi Formatted: Font: 13 pt, Font color: lứa tuổi, trong mọi nền văn hóa. Trình độ, mức độ, kiểu loại của sáng tạo còn đƣợc Black, Not Highlight phân tích dựa trên sản phẩm, trong quá trình sáng tạo cũng nhƣ dƣới góc độ nhân Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font color: Black cách sáng tạo (Arnold, 1963) [65]. Dƣới đây là một số hƣớng tiếp cận nghiên cứu Formatted: Indent: Left: 0 cm, First sáng tạo chủ yếu trên thế giới: line: 1.27 cm, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Line spacing: Multiple * Hướng thứ nhất: Tiếp cận nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ quá trình 1.35 li Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font Theo mô hình kinh điển của nhà tâm lý học xã hội Wallas (1926), quá trình color: Black Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font sáng tạo bao gồm 4 bƣớc: (i) Chuẩn bị: chủ thể sáng tạo tiếp nhận, lĩnh hội vốn tri color: Black, Italian (Italy) thức, kỹ năng, kỹ xảo, mở rộng tầm hiểu biết về lĩnh vực và nghiền ngẫm, nung nấu Formatted: Font: 13 pt, Not Italic, Font color: Black, Italian (Italy) trong thời gian dài; (ii) Ấp ủ: các ý tƣởng chƣa xuất hiện mà có thể vẫn còn đƣợc Formatted: Font: 13 pt, Not Italic, Font nung nấu ở mức độ dƣới ý thức, sự trăn trở có ý thức về những vấn đề, sự thúc ép color: Black, Italian (Italy) về hậu quả của vấn đề, những kích thích bởi hứng thú, đam mê và sự cam kết thúc Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Italian (Italy) đẩy quá trình chuyển hóa sang giai đoạn tiềm thức; (iii) Thấu hiểu (bừng sáng): khi Formatted: Font: 13 pt, Not Italic, Font color: Black, Italian (Italy) ý tƣởng liên kết với nhau, tự thân không có sự điều khiển nào của ý thức, nhƣng bất Formatted: Font: 13 pt, Not Italic, Font thần những kết nối xuất hiện, ý tƣởng sáng tạo xuất hiện bất ngờ. Lúc này, chủ thể color: Black, Italian (Italy) sáng tạo đột nhiên nhìn thấy sự le lói ban đầu của giải pháp, dƣới dạng chƣa hoàn Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Italian (Italy) chỉnh mà họ đang phải tìm kiếm trong hàng tháng, thậm chí hàng năm.
Ý tƣởng mới Formatted. mẻ đƣợc hình thành chƣa phải là bƣớc kết thúc quá trình sáng tạo, mà ý tƣởng đó Formatted .thuat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thuat phải đƣợc sàng lọc, tôi luyện, chuyển sang dạng có thể thử nghiệm đƣợc, rồi thử Formatted: Font: 13 pt, Not Italic, Font color: Black, Italian (Italy) nghiệm thực sự. Đây là bƣớc mà các tiêu chuẩn bên trong lĩnh vực và ý kiến chuyên Formatted: Font: 13 pt, Font color: môn có ý nghĩa quan trọng để đánh giá sự có hay không tính hiếm, lạ của ý tƣởng; Black, Italian (Italy) (iv) Đánh giá và cụ thể hóa: quá trình sáng tạo đƣợc kết thúc bằng việc chi tiết hóa Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black, Italian (Italy) ý tƣởng, cụ thể hóa ý tƣởng dƣới hình thức ngôn ngữ thông thƣờng để mọi ngƣời có Formatted: Font: 13 pt, Font color: thể hiểu đƣợc. Trên cơ sở mô hình quá trình sáng tạo của Wallas, Amabile (1983) Black, Italian (Italy) Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font đề xuất mô hình quá trình sáng tạo mới gồm 5 bƣớc: (i) Sự xuất hiện vấn đề (thông color: Black qua tác động từ bên trong và bên ngoài); (ii) Chuẩn bị (thông qua thu thập thông tin Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font color: Black phù hợp để giải quyết vấn đề); (iii) Sản sinh ý tưởng (đƣa ra những phƣơng án khả Formatted: Font: 13 pt, Font color: thi để giải quyết vấn đề); (iv) Kiểm tra ý tưởng (kiểm tra từng ý tƣởng đã đƣa ra Black theo sự phù hợp với vấn đề); (v) Đánh giá sản phẩm (lựa chọn câu trả lời cho vấn Formatted: Font: 13 pt, Font color: Black đề) [108].
Ngoài ra, Stein (1967) đề xuất xem xét mô hình quá trình sáng tạo chỉ với 3 Formatted. bƣớc: hình thành giả thuyết, kiểm tra giả thuyết và trao đổi kết quả [104]. Hogarth (1980) đề xuất quá trình sáng tạo gồm 4 bƣớc: chuẩn bị, đƣa ra giải Formatted. pháp, đánh giá giải pháp và áp dụng giải pháp [91].
Cũng nghiên cứu sáng tạo dƣới góc độ quá trình, Csikszentmihalyi (1996). đƣa ra thuật ngữ “dòng sáng tạo” nhằm chỉ dòng chảy dẫn đến kết quả, dẫn đến sự Formatted. Sự thích thú, cuốn hút của chính công việc làm ngƣời sáng tạo đắm mình Formatted. trong diễn biến của sự kiện, tình huống xảy ra trong tƣ duy, ngƣời sáng tạo hòa vào Formatted.
dòng chảy cho đến khi ý tƣởng sáng tạo xuất hiện mà không ý thức đƣợc sự tồn tại Formatted. tách bạch của mình trong suốt quá trình đó. Mỗi ngƣời sáng tạo theo những cách Formatted. khác nhau, nhƣng ngƣời sáng tạo giống nhau ở một điểm “họ yêu thích công việc Formatted.
họ làm” - họ làm việc vì chính những trải nghiệm mà họ thu nhận đƣợc khi thực Formatted. hiện các hoạt động này. Nhƣ vậy, sáng tạo luôn tiềm ẩn trong các yếu tố trải nghiệm Formatted. của mỗi ngƣời và thƣởng thức sự hứng thú trong dòng chảy, bao gồm: có mục tiêu Formatted.
rõ ràng trong từng bƣớc đi, có thông tin phản hồi trong mỗi hành động, có sự cân Formatted. bằng giữa thách thức và kỹ năng, có sự thống nhất giữa hành động và ý thức, sự Formatted. phân tán bị loại khỏi ý thức, không có nỗi lo thất bại, sự biến mất của tự ý thức, cảm Formatted. giác thời gian không tồn tại và hoạt động trở thành mục đích tự thân [74].
Bên cạnh việc phân tích quá trình sáng tạo theo từng bƣớc, các nhà nghiên Formatted. cứu còn xem xét sáng tạo nhƣ hoạt động tƣ duy giải quyết vấn đề.thuat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thuat Toynbee (1964) và Guilford (1967) coi sáng tạo là quá trình giải quyết vấn đề, vì mỗi tình huống giải quyết vấn đề đòi hỏi cá nhân phải tƣ duy sáng tạo. Đứng trƣớc một vấn đề, con ngƣời huy động vốn kinh nghiệm của mình, kết hợp chúng thành cấu trúc mới để giải quyết vấn đề. Để giải quyết vấn đề, tức để sáng tạo cái mới, ngƣời ta làm việc với những thông tin đang có và dò lại những kinh nghiệm trƣớc đây của mình, tổ hợp chúng, di chuyển chúng vào các cấu trúc mới, các cấu hình mới và vấn đề đặt ra đƣợc giải quyết, nhu cầu nào đó của cá nhân đƣợc thỏa mãn.
Sự song hành giữa tình huống giải quyết vấn đề và tƣ duy sáng tạo là ở chỗ, ở cả hai quá trình này, cá nhân vừa hình thành, vừa vận dụng một chiến lƣợc mới hoặc biến đổi các kích thích không phù hợp và áp dụng nó. Nhƣ vậy, mỗi sự giải quyết vấn đề là một quá trình sáng tạo [114, 89. Edward de Bono (1967, 1982, 1985) phân biệt tƣ duy thành tƣ duy theo chiều dọc và tƣ duy theo chiều ngang. Ông quan niệm: tƣ duy theo chiều dọc có chọn lọc và mang tính phân tích.
Ngƣời tƣ duy theo chiều dọc có mục tiêu tìm lời giải đúng theo một con đƣờng với việc thực hiện hàng loạt các bƣớc theo một trật tự nhất định, các bƣớc sau xuất hiện từ các bƣớc trƣớc. Còn tƣ duy theo chiều ngang đóng vai trò chính yếu trong tƣ duy sáng tạo; tƣ duy theo chiều ngang có khả năng bao trùm trên một diện rộng mang tính khơi gợi, nên liên quan đến tính phong phú, khuyến khích cá nhân đƣa ra nhiều giải pháp và không tuyệt đối hóa một giải pháp duy nhất đúng. Tƣ duy theo chiều ngang diễn ra một cách “nhảy cóc”, có thể bao hàm cả những thông tin không phù hợp và điều đó đƣợc coi là cơ hội của sự thay đổi sang kiểu tƣ duy mới [75, 76, 77]. Việc xem xét mối quan hệ giữa cái logic và cái trực giác giúp xác định sự tƣơng quan hợp lý giữa hai thành tố này trong hoạt động sáng tạo (Amabile, 1983; Csikszentmihalyi, 1996) 108, 74.
Tƣ duy sáng tạo là sự thống nhất của yếu tố trực giác và yếu tố logic. Có thể thấy tƣ duy sáng tạo đƣợc tạo dựng trên nền tảng phê phán những gì đã có, những cơ sở của các yếu tố logic, nhƣng tƣ duy sáng tạo không dừng lại ở đó, tƣ duy sáng tạo hợp thức hóa các yếu tố phi logic, theo đó logic mới đƣợc phát hiện. Nhƣ vậy, trong hoạt động tìm kiếm lời giải cho bài toán sáng tạo, sự xuất hiện kinh nghiệm vô thức (mà kinh nghiệm này có thể đã từng có mặt trong ý thức) và nay 9 (LUAN.thuat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.thuat chuyển vào tiềm thức, hay hình ảnh mới xuất hiện trực tiếp nhờ kết quả tri giác trong quá trình tìm kiếm lời giải có ý nghĩa quyết định.