lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động tín dụng hộ sản xuất và cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển hoạt động tín dụng hộ sản xuất và cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Nam Định. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng hộ sản xuất và cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Nam Định. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ Ý U N VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT VÀ CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. á n ệm oạt độn c o va của n n n t ƣơn mạ Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng Thƣơng mại (NHTM) để tạo ra lợi nhuận. Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các NHTM càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng, phong phú. Cho vay của các ngân hàng thƣơng mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn, khu vực cho vay ngắn hạn nhƣờng chỗ cho thị trƣờng tài chính - tiền tệ cung ứng.
Hiện nay có nhiều quan niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” [29] hoặc “Cho vay hộ sản xuất là quan hệ tín dụng ngân hàng giữa một bên là ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hoá”[9, tr. Từ khi đƣợc thừa nhận là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội, có thừa kế, quyền sở hữu tài sản, có phƣơng án sản xuất kinh doanh (SXKD) hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng và đủ tƣ cách để tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng. Đây cũng chính là điều kiện cần để đáp ứng điều kiện vay vốn ngân hàng. Trong quan hệ cho vay, có hai chủ thể: bên cho vay1 và bên đi vay2 đặt quan hệ tín dụng bằng cách bên cho vay chuyển một số vốn với mức lãi suất cho vay và thời gian nhất định cho bên đi vay.
Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn. Quan hệ này có thế dựa 1 Chủ thể có vốn, trong phạm vi luận văn, gọi là bên Ngân hàng 2 Chủ thể cần vốn, trong phạm vi luận văn, gọi là bên Khách hàng 10 vào niềm tin giữa hai bên vay- cho vay hoặc có thể đƣợc đảm bảo bởi bên thứ ba (bên bảo lãnh vay vốn) hoặc đảm bảo bằng chính tài sản của bên đi vay. Dù là cho vay có tài sản đảm bảo hay không có tài sản đảm bảo thì đặc trƣng của cho vay cũng nhƣ đặc trƣng của tín dụng: tính hoàn trả và tính thời hạn luôn đƣợc đảm bảo. Một trong hai đặc trƣng bị phá bỏ đồng nghĩa với việc bên cho vay đối diện với nguy cơ mất hoặc chậm thu hồi vốn.
Qua phân tích trên thì theo tác giả: Hoạt động cho vay của ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Nhƣ vậy, hoạt động cho vay của Ngân hàng gồm 02 yếu tố cấu thành sau: Một là, các bên tham gia gồm ngƣời cho vay và ngƣời vay. Cá nhân Hộ gia đình Ngân hàng cho vay Tổ hợp tác Doanh nghiệp tƣ nhân Công ty hợp danh Sơ đồ 1. Đối tượng vay vốn của Agribank Điều kiện của chủ thể vay vốn gồm: i) phải có năng lực chủ thể: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự (Điều 16,18, 96 - Bộ Luật dân sự) chịu trách nhiệm pháp lý trong kinh tế và dân sự.
ii) Các cơ quan quản lý nhà nƣớc: Là các cơ quan công quyền nhƣ NHNN, cơ quan công chứng, toà án, thuế quan. Những cơ quan này có trách nhiệm kiểm soát việc tuân thủ 11 quy định pháp luật, đồng thời công nhận tính hợp pháp của các giao dịch cho vay, quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản và xét xử giải quyết tranh chấp. Tuỳ theo mỗi hình thức cho vay mà các chủ thể trên có liên đới tham gia với mức độ nhất định hoặc không tham gia vào hình thức cho vay nào đó. Kết quả những tác động qua lại giữa các bên là hợp đồng cho vay3.
Hai là, chi phí cho vay gồm: Lãi suất cho vay và chi phí Marketing trực tiếp. Lãi suất cho vay là lãi suất đƣợc xác định theo kỳ hạn cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn và có những cách trả lãi khác nhau nhƣ trả lãi trƣớc, trả lãi định kỳ hoặc trả lãi sau. Ngƣời cho vay không chỉ quan tâm đến lãi suất mà còn quan tâm đến sự an toàn của khoản vay. Còn ngƣời vay ngoài vấn đề lãi suất họ còn quan tâm vào giá tiền của giá trị sử dụng mà họ phải trả có phù hợp với khả năng tài chính và kết quả kinh doanh mang lại cho họ hay không.
Thông thƣờng, lãi suất cho vay đƣợc tính toán dựa trên cơ sở lãi suất cho vay ngắn hạn, phần bù rủi ro và tỷ lệ phí: Idài hạn= Ingắn hạn + Rp ( phần bù rủi ro). Do vậy lãi suất luôn phải điều chỉnh tuỳ vào thời hạn vay và đối tƣợng khách hàng. Mặt khác lãi suất cho vay luôn phải phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ đồng thời lãi suất cạnh tranh giữa các ngân hàng thƣơng mại và tổ chức tín dụng khác. Lãi suất trong hợp đồng cho vay, đƣợc thể hiện dƣới hai mức thỏa thuận là áp dụng lãi suất cố định hay lãi suất thả nổi theo thị trƣờng.
Chi phí Marketing trực tiếp: Chi phí dự phòng cho trƣờng hợp không thu hồi đƣợc vốn cho vay; Chi phí quản lý; Lợi nhuận mong đợi trong tƣơng lai; Chi phí khác. P n loạ oạt độn c o va của n n n t ƣơn mạ Thứ nhất, phân loại theo thời hạn tín dụng: Cho vay ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn tối đa là 12 tháng. Cho vay 3 Hợp đồng tín dụng 12 ngắn hạn đƣợc sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình trong ngắn hạn. Cho vay trung hạn: Là tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm.
Cho vay trung hạn chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến, đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ. có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Cho vay dài hạn: Là tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn thƣờng đƣợc sử dụng để đáp ứng cho các nhu cầu dài hạn nhƣ cho xây dựng cơ bản, đầu tƣ xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn… Thứ hai, căn cứ theo mục đích sử dụng vốn tín dụng thƣờng đƣợc chia ra các loại sau: Cho vay bất động sản là các khoản cho vay đầu tƣ vào lĩnh vực bất động sản, bao gồm: cho vay ngắn hạn, cho xây dựng và mở rộng đất đai.
cho vay trung, dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại. Cho vay công nghiệp và thương nghiệp là các khoản cho vay cấp cho các khoản chi phí nhƣ mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lƣơng. Cho vay nông nghiệp là các khoản cho vay cấp cho hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng , chăn nuôi gia súc nuôi trồng thủy sản. Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay cấp cho cá nhân, hộ tiêu dùng nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng mua sắm hàng hóa và các khoản tín dụng để trang trải các chi phí thông thƣờng của đời sống.
Cho vay đầu tư tài chính là các khoản cho vay cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp đầu tƣ tài chính nhƣ mua chứng khoán, vàng. 13 Thứ ba, căn cứ vào tài sản đảm bảo hay mức độ tín nhiệm của khách hàng: Cho vay có tài sản đảm bảo là loại hình cho vay dựa trên cơ sở có tài sản đảm bảo nhƣ thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Ngân hàng nắm giữ tài sản của ngƣời vay ( ngƣời bảo lãnh) để xử lý, thu hồi nợ khi ngƣời vay không thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Cho vay không có tài sản đảm bảo4 là loại hình cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp, hoặc không có sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba.
Việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Thứ tư, căn cứ vào đối tƣợng vay vốn, cho vay đƣợc chia thành các loại sau: Cho vay doanh nghiệp là các khoản cho vay cấp cho đối tƣợng vay vốn là doanh nghiệp, phục vụ cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, các khoản tín dụng này thƣờng có giá trị lớn. Cho vay cá nhân, hộ gia đình là các khoản cho vay cấp cho đối tƣợng vay vốn là cá nhân, hộ gia đình, các khoản cho vay này thƣờng có giá trị nhỏ, phục vụ cho mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình. Cho vay cho các tổ chức tài chính đây là khoản cho vay cấp cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính khác.
Thứ năm, phân loại theo phƣơng thức cho vay. Hiện nay, các ngân hàng thƣờng sử dụng các phƣơng thức cho vay phổ biến sau: Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định.