Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN CỦA VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO KHU CÔNG NGHIỆP (KCN) CỦA TỈNH 1. Một số vấn đề lý luận chung về thu hút FDI vào KCN 1. Khái niệm FDI 1. Khái niệm FDI FDI là một loại đầu tư xét theo phạm vi không gian đồng thời với mức độ quản lý và sử dụng vốn đầu tư.
Trên thế giới vẫn có rất nhiều cách hiểu khác nhau về FDI: Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định nghĩa: FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”. Theo tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD), FDI bao gồm các hoạt động kinh tế của các cá nhân, kể cả việc cho vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm mục đích tạo dựng quan hệ kinh tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hưởng thực sự về quản lý. Khoản 3, điều 3, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987 quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ 7 tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này”. Khoản 1, điều 2, Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 12/11/1996 quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”.
Theo điều 3, Luật đầu tư được Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005 giải thích: - Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. - Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức ,cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. - Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư. Qua sự giải thích này, FDI ở Việt Nam được hiểu là hình thức đầu tư do tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.
Khác với hoạt động đầu tư nói chung, FDI có đặc điểm nổi bật là chủ đầu tư có quốc tịch khác nhau. Hoạt động đầu tư của họ được tiến hành thông qua các dự án FDI. Trong các dự án này, nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành một phần hoặc toàn bộ dự án (tuỳ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư) để đạt được mục đích của họ trong khuôn khổ pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư). FDI phân loại theo mục đích của nhà đầu tư gồm có các loại sau - FDI tìm kiếm tài nguyên: là hình thức nguyên thủy mà các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào các nước đang phát triển.
Hình thức này sẽ tạo ra thương mại gắn với sản xuất bán thành phẩm (hoặc sản phẩm đầu ra) đồng thời có tác động 8 thúc đẩy thương mại thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất từ nước đầu tư đến nước nhận đầu tư và xuất khẩu bán thành phẩm (hoặc thành phẩm) từ nước nhận đầu tư. - FDI tìm kiếm thị trường: là hình thức đầu tư sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại thị trường của nước nhận đầu tư. Hình thức này xuất hiện do các rào cản thương mại, chi phí vận chuyển … còn cao. - FDI tìm kiếm hiệu quả: là hình thức trong đó nhà đầu tư phân bố công đoạn sản xuất ở nước ngoài nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất.
Hình thức cổ điển nhất của dạng đầu tư này là tìm kiếm các nguồn lao động chi phí thấp tại các nước đang phát triển bằng cách đặt cơ sở sản xuất của mình tại khu vực có nguồn lao động rẻ. Bên cạnh đó còn có hình thức thuê gia công phụ kiện, hình thức này dẫn tới sự đa dạng hóa về sản phẩm xuất khẩu hướng vào các sản phẩm có giá trị cao hơn. - FDI tìm kiếm tài sản chiến lược : đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm khả năng nghiên cứu và phát triển (R&D). Hình thức này xuất hiện ở giai đoạn phát triển cao của quá trình toàn cầu hóa các hoạt động của công ty.
Các hình thức đầu tư FDI tại Việt Nam bao gồm Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC – Business Cooperation Contract) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Bao gồm: - Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT – Building- Operation-Transfer) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. - Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO – Buiding-Transfer- Operation) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đâu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho 9 nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. - Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT – Buiding-Transfer) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT.
Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture): là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên nước ngoài hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh. Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài 1.
Các yếu tố tác động tới việc thu hút FDI Hoạt động thu hút và triển khai FDI thường gắn liền với một địa phương do đó mà hoạt động này chịu sự tác động của các yếu tố về môi trường kinh tế – chính trị – xã hội của một quốc gia nói chung và các yếu tố thuộc môi trường đầu tư của địa phương nói riêng. Các yếu tố này có thể tạo nên sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư nhưng cũng có thể trở thành yếu tố cản trở hoặc không tạo nên sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong việc thu hút các dự án FDI và đẩy nhanh tiến độ của dự án. Thứ nhất là yếu tố về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Lợi thế về vị trí địa lý giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường xung quanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa. 10 Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài.
Các nhà đầu tư luôn nhắm đến nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của một địa phương hoặc một quốc gia để có được nguồn nguyên liệu dồi dào với giá rẻ… Thứ hai là yếu tố về môi trường chính trị – kinh tế – xã hội Các yếu tố kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái, lãi suất… có tác động tới lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư, ảnh hưởng tới quy mô và tiềm năng thị trường của đầu ra sản phẩm của nhà đầu tư qua đó ảnh hưởng lớn đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất, khả năng tìm đầu ra cho sản phẩm… Do vậy, nhà đầu tư luôn có những sự xem xét về nền kinh tế của quốc gia nhận đầu tư khi lựa chọn địa điểm đầu tư. Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển không chỉ được quyết định bởi các yếu tố về kinh tế, mà còn chịu sự chi phối của các yếu tố về chính trị. Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, kết hợp với sự ổn định về chính trị được xem là yếu tố rất quan trọng trong sự lựa chọn địa điểm đầu tư của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư thường lựa chọn những quốc gia hoặc địa phương có nền chính trị – xã hội ổn định.
Sự ổn định này giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh khi đầu tư.