Luận án tiến sĩ phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh phú thọ

Luận án tiến sĩ phân tích phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập tỉnh Phú Thọ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

Trường đại học

Trường Đại Học Phú Thọ

Chuyên ngành

Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

209
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.2. Phương pháp nghiên cứu

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ CÔNG LẬP

2.1. Khái quát về nguồn lực tài chính tại cơ sở đào tạo nghề công lập

2.2. Kinh nghiệm và bài học rút ra về phát triển nguồn lực tài chính tại cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh Phú Thọ

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ CÔNG LẬP CỦA TỈNH PHÚ THỌ

3.1. Khái quát chung về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn lực tài chính và tình hình hoạt động tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh Phú Thọ

3.2. Thực trạng phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 - 2020

3.3. Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức học phí kỳ vọng của học viên học nghề tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh Phú Thọ

3.4. Đánh giá chung về thực trạng phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 - 2020

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG III

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO NGHỀ CÔNG LẬP CỦA TỈNH PHÚ THỌ

4.1. Định hướng và mục tiêu phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh Phú Thọ

4.2. Giải pháp phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh Phú Thọ

4.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG IV

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Nguồn Lực Tài Chính Tại Cơ Sở Đào Tạo Nghề Công Lập Tỉnh Phú Thọ

Phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập tỉnh Phú Thọ là một vấn đề cấp thiết. Nguồn lực tài chính không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà còn quyết định sự phát triển bền vững của các cơ sở này. Việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính sẽ giúp nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

1.1. Khái Niệm Về Nguồn Lực Tài Chính Trong Đào Tạo Nghề

Nguồn lực tài chính trong đào tạo nghề bao gồm ngân sách nhà nước, nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân và các khoản thu từ học phí. Việc hiểu rõ khái niệm này giúp các cơ sở đào tạo xác định được các nguồn lực cần thiết cho hoạt động của mình.

1.2. Vai Trò Của Nguồn Lực Tài Chính Đối Với Đào Tạo Nghề

Nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nâng cao chất lượng giảng dạy. Điều này không chỉ giúp thu hút học viên mà còn nâng cao uy tín của cơ sở đào tạo.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Nguồn Lực Tài Chính Tại Cơ Sở Đào Tạo Nghề

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập tỉnh Phú Thọ vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như ngân sách hạn chế, tâm lý ỷ lại vào ngân sách nhà nước và thiếu sự tham gia của khu vực tư nhân là những rào cản lớn.

2.1. Ngân Sách Nhà Nước Hạn Chế

Ngân sách nhà nước dành cho đào tạo nghề còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng đầu tư cho cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng giảng dạy. Điều này dẫn đến việc các cơ sở đào tạo không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.

2.2. Tâm Lý ỷ Lại Vào Ngân Sách Nhà Nước

Tâm lý coi trọng các cơ sở công lập hơn cơ sở tư nhân và sự ỷ lại vào ngân sách nhà nước đã làm giảm động lực phát triển nguồn lực tài chính từ các nguồn khác. Điều này cần được thay đổi để khuyến khích sự tham gia của các tổ chức và cá nhân.

III. Phương Pháp Huy Động Nguồn Lực Tài Chính Hiệu Quả

Để phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập, cần áp dụng các phương pháp huy động hiệu quả. Việc kết hợp giữa ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính khác sẽ tạo ra sự bền vững cho hoạt động đào tạo.

3.1. Tăng Cường Huy Động Từ Ngân Sách Nhà Nước

Cần có các chính sách rõ ràng để tăng cường huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, đảm bảo rằng các cơ sở đào tạo nghề được cấp đủ kinh phí để hoạt động hiệu quả.

3.2. Khuyến Khích Đầu Tư Từ Khu Vực Tư Nhân

Khuyến khích các doanh nghiệp và tổ chức tư nhân tham gia đầu tư vào các cơ sở đào tạo nghề thông qua các chính sách ưu đãi về thuế và hỗ trợ tài chính sẽ giúp tăng cường nguồn lực tài chính.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Tại Tỉnh Phú Thọ

Các nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Phú Thọ cho thấy rằng việc phát triển nguồn lực tài chính đã có những kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục cải thiện và áp dụng các giải pháp mới để nâng cao hiệu quả.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Các Chính Sách Hỗ Trợ

Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ đã giúp cải thiện đáng kể nguồn lực tài chính cho các cơ sở đào tạo nghề, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng đào tạo.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Rút Ra

Từ thực tiễn phát triển nguồn lực tài chính tại tỉnh Phú Thọ, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho các tỉnh khác trong cả nước.

V. Kết Luận Về Tương Lai Phát Triển Nguồn Lực Tài Chính

Tương lai phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập tỉnh Phú Thọ cần được định hướng rõ ràng. Việc áp dụng các giải pháp đồng bộ sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.

5.1. Định Hướng Phát Triển Đến Năm 2030

Định hướng phát triển nguồn lực tài chính đến năm 2030 cần tập trung vào việc tăng cường tự chủ tài chính và xã hội hóa đào tạo nghề.

5.2. Các Giải Pháp Đề Xuất

Cần có các giải pháp cụ thể để phát triển nguồn lực tài chính, bao gồm việc cải cách chính sách và tăng cường hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận án tiến sĩ phát triển nguồn lực tài chính tại các cơ sở đào tạo nghề công lập của tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu Các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến NLTC cho ĐTN đã được thực hiện ở các công trình nghiên cứu khác nhau như: Luận án tiến sĩ, các nghiên cứu chuyên sâu, tham luận, bài báo, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp,… Các công trình nghiên cứu đã được triển khai trên những khía cạnh và cách tiếp cận khác nhau, cụ thể: 1. Các nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho đào tạo nghề Dưới góc nhìn về huy động NLTC từ NSNN, cấp phát tài chính cho đào tạo nghề, đã có một số công trình nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng cấp tài chính cho dạy nghề ở Việt Nam tại các CSĐT nghề công lập, các CSĐT nghề tư nhân, cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp. Theo báo cáo “Cấp tài chính cho dạy nghề Việt Nam” của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (2007), đề xuất “các hoạt động dạy nghề cần thực hiện để hướng đến một hệ thống cấp tài chính bền vững cho dạy nghề ở Việt Nam” và khẳng định “việc tiếp tục xây dựng hệ thống tài chính là một phần việc trong toàn bộ quá trình đổi mới dạy nghề và cơ chế tài chính mới sẽ mang lại tác động mong đợi khi nó được thực thi cùng với việc đổi mới các thành tố khác của hệ thống” [38].

Về góc độ nâng cao hiệu quả các NLTC do Nhà nước đầu tư nên “chọn sinh viên làm đối tượng xây dựng định mức phân bổ dự toán NSNN chi thường xuyên cho giáo dục và có điều chỉnh hệ số giữa các vùng” [12]. Cùng với quan điểm trên, Trương Anh Dũng (2014) cho rằng cần điều chỉnh cơ cấu chi cho các đơn vị sự nghiệp công theo hướng tăng cơ cấu chi cho giáo dục, trong đó cần ưu tiên tăng chi cho các đơn vị vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, giảm dần chi thường xuyên, tập trung chi cho cơ sở vật chất, trang 8 thiết bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao [16]. Về phương thức huy động và quá trình phân bổ, cấp NSNN theo kết quả đầu ra, Trương Anh Dũng (2015) cho rằng “chuyển dần từ cơ chế NSNN cấp kinh phí cho đơn vị sự nghiệp sang cơ chế thanh toán cho đơn vị sự nghiệp khi mua kết quả đầu ra của đơn vị, chi NSNN cần hướng tới đối tượng được cung cấp các dịch vụ sự nghiệp” [15]. Theo đó cần “chuyển dần phương thức phân bổ NSNN theo đầu ra sang phương thức phân bổ NSNN theo kết quả hoạt động đối với NSNN từ NSNN, cơ sở phân bổ NSNN là chi phí đơn vị cho 1 sinh viên/năm (suất kinh phí đào tạo)” [44].

Theo Đặng Văn Du và Bùi Tiến Hanh (2010) cho rằng nên “áp dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn, theo đó cần dự toán đầy đủ mọi NLTC sẵn có theo kiểu cuốn chiếu” [12]. Công tác phân bổ NSNN theo hướng thực hiện khung chi tiêu trung hạn với thời gian 5 năm, dựa vào kết quả đầu ra, có chính sách phân bổ NSNN cụ thể với các ngành, có khả năng xã hội hóa cao và các ngành ít có khả năng để xã hội hóa. Để thuận lợi, cần có các điều kiện và biện pháp thực hiện cụ thể để áp dụng các phương thức phân bổ NSNN theo kết quả đầu ra, Nguyễn Văn Lâm (2017) đề xuất nên phân bổ NSNN dựa trên đầu ra trên cơ sở xây dựng hệ thống thông tin cập nhật hàng năm về điều tra sinh viên tốt nghiệp có việc làm từ cấp trường [22]. Về vấn đề giải pháp tài chính tăng nguồn NSNN cho ĐTN, một số nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu cho ĐTN chất lượng cao, khôi phục các làng nghề địa phương.

Mô hình nghiên cứu về sản xuất kinh doanh trong làng nghề, phân tích các nhân tố ảnh hưởng để tìm giải pháp tài chính để khôi phục và phát triển các làng nghề. Theo Ngô Hồng Nhung (2016), qua nghiên cứu 9 đã đề xuất các giải pháp về chi NSNN, về tín dụng, về thuế cùng với các điều kiện để thực hiện giải pháp phát triển làng nghề tại địa phương [34]. Theo góc nhìn về xã hội hóa NLTC cho ĐTN chất lượng cao, Khương Thị Nhàn (2016) cho rằng “cần đầu tư tập trung cho một số trường để hình thành hệ thống các trường nghề chất lượng cao, triển khai hiệu quả cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực ĐTN” [33]. Về khía cạnh huy động nguồn NSNN cấp tài chính đầu tư cho ĐTN, các nghiên cứu chủ yếu về phát triển nghề trọng điểm.

Căn cứ trên khung phương pháp luận để xác định nghề trọng điểm bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, quy trình và phương pháp triển khai đồng bộ về các nghề trọng điểm. Theo Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề, Tổng cục dạy nghề (2014), “bối cảnh gia tăng cạnh tranh đối với những NLTC công có hạn cũng như những yêu cầu tài chính cho việc mở rộng số lượng cũng như nâng cao chất lượng ĐTN theo nhu cầu khiến việc đảm bảo tài chính bền vững cho ĐTN trở thành một thách thức và là vấn đề then chốt của các nỗ lực phát triển ĐTN” [44]. Cùng quan điểm đó, theo Tổ chức hợp tác quốc tế Đức và Bộ LĐ-TB&XH (2012) cho rằng “việc giải quyết các yêu cầu tài chính đối với ĐTN hướng cầu là một vấn đề rất quan trọng. Nó bao gồm thông tin về chi phí thực tế, các nguồn phát sinh chính và chi phí giới hạn theo tính khả thi.

Mặt khác huy động nguồn lực bổ sung cho tài chính công, tập trung chủ yếu ở các khoản đóng góp của doanh nghiệp và học viên với vai trò là các bên tham gia và hưởng lợi. Vấn đề cốt lõi tiếp đên đó là quản lý và phân bổ nguồn vốn, tập trung vào tính minh bạch, trách nhiệm giải trình cũng như hiệu suất và hiệu quả của nguồn vốn thông qua cơ chế phân bổ dựa trên sự thực hiện” [39]. Một số nghiên cứu đã nhận định tài chính bền vững cho dạy nghề là một yếu tố quan trọng để thực hiện các chức năng của hệ thống ĐTN. Đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa việc đảm bảo NLTC đầy đủ cho phát triển GDNN, đầu 10 tư cho đội ngũ giáo viên dạy nghề có năng lực, cơ sở vật chất dạy nghề,… và chất lượng đầu ra được kỳ vọng để thực hiện ĐTN theo các tiêu chuẩn nghề.

Việc nâng cao chất lượng đầu ra “thường hàm ý là việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho người học phải dựa trên chất lượng của đội ngũ giáo viên, chất lượng của giáo trình và chương trình giảng dạy, thêm vào đó là cơ sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo [38]. Tại Việt Nam và nhiều nước trong khu vực ASSEAN, việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính cũng xuất phát từ công tác mở rộng hệ thống ĐTN do gia tăng dân số và nhu cầu đang tăng lên về nhân lực có chất lượng” theo Tổ chức hợp tác quốc tế Đức và Bộ LĐ-TB&XH (2012). Các nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính ngoài ngân sách nhà nước cho đào tạo nghề Về khía cạnh huy động NLTC ngoài NSNN cho ĐTN, các nghiên cứu chủ yếu tập trung về huy động nguồn tài chính tại GDNN công lập, theo đó đưa ra các quan điểm về những nhân tố ảnh hưởng, đánh giá và luận giải các mặt còn hạn chế về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam. Theo Trần Thế Lữ (2018) đã sử dụng mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mong muốn của học viên được đào tạo tại các cơ sở GDNN công lập để từ đó phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp huy động nguồn tài chính tại các cơ sở đó [26].

Với quan điểm coi học phí là giá cả dịch vụ giáo dục, Nguyễn Văn Lâm (2017) cho rằng “nên chuyển đổi chính sách học phí hiện nay sang chính sách giá dịch vụ, cần tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo, bước đầu tính chi phí tiền lương, chi phí hoạt động thường xuyên trên cơ sở khung giá Nhà nước quy định, tiến tới bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định và việc xây dựng theo hướng thị trường” [22]. Cùng quan điểm trên, Ngô Hồng Nhưng (2016) đề xuất “đối với các ngành học có khả năng xã hội hóa cao được xây dựng mức thu học phí trên cơ sở tính toán đầy đủ chi phí 11 đào tạo, để tiến tới thực hiện nguyên tắc lấy thu đủ bù đắp chi phí đào tạo”[34]. Với quan điểm coi học phí như thu nhập doanh nghiệp, Trần Thế lữ (2018) đã đề nghị “tăng tỷ lệ thu hồi chi phí thông qua chính sách học phí”, đồng thời cần “phân biệt trần học phí giữa các nhóm ngành nghề đào tạo, theo vùng miền, quy định các nguyên tắc xác định mức học phí phù hợp với tình hình phát triển của đất nước”[26]. Về huy động nguồn lực ngoài NSNN cho ĐTN để đảm bảo việc đầu tư đồng bộ có đủ điều kiện để hoạt động của hệ thống GDNN công lập, theo Nguyễn Văn Lâm (2017) cho rằng “chủ trương xã hội hóa nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước, phát triển hệ thống GDNN là chủ trương lớn, lâu dài và nhất quán, được quán triệt sâu sắc và triển khai rộng khắp đến các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và mọi đối tượng thành phần dân cư trong toàn xã hội” [22], công tác xã hội hóa nguồn lực sẽ huy động nguồn lực của tư nhân và đem lại hiệu quả tích cực cho phát triển hệ thống GDNN.

Về cơ chế chính sách huy động NLTC cho ĐTN chủ yếu các nghiên cứu đánh giá tập trung về việc huy động nguồn lực, phân phối sử dụng tài chính cho ĐTN trong giai đoạn nghiên cứu để đưa ra những giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho ĐTN phát triển. Theo Trương Anh Dũng (2014) cho rằng “trong điều kiện quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường, dạy nghề không chỉ còn là hoạt động mang tính xã hội thuần túy mà nó trở thành một loại hàng hóa công công đặc biệt” [16], do đó muốn đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hàng hóa công ngày càng cao thi nhất thiết phải có NLTC để sản xuất và cung ứng. Căn cứ nền tảng quan điểm này, Trương Anh Dũng (2015), đề xuất “cơ chế quản lý tài chính ĐTN theo ba nội dung: Huy động và tạo lập nguồn tài chính, quản lý việc phân phối và sử dụng nguồn tài chính, kiểm tra và giám sát nguồn tài chính” [15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ