Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NÂNG CAO THỂ CHẤT VÀ KNS CHO THANH NIÊN 1. Những vấn đề lí luận về thanh niên 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm thanh niên Theo Điều 1 - Luật Thanh niên năm 2005 (Luật số 53/2005/QH11) quy định “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi (16) đến ba mươi tuổi (30)”. Theo Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh hiện hành quy định “Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30” [18].
Như vậy, khái niệm thanh niên mà luận văn sẽ sử dụng làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài này là “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. - Khái niệm chính sách phát triển thanh niên Tại hội nghị đối thoại “Xây dựng chính sách phát triển thanh niên Việt Nam”, đồng chí Nguyễn Long Hải – Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Quốc Gia về thanh niên Việt Nam đã phát biểu “Thanh niên là một đối tượng đặc thù, chính sách về thanh niên phải xoay quanh việc bồi dưỡng, phát huy thanh niên, trong đó phải quan tâm tạo điều kiện để thanh niên được học tập, lao động, sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng chính sách thanh niên là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược và có tầm quan trọng đòi hỏi việc đặt ra vấn đề phải xây dựng làm sao để có một văn bản Luật về thanh niên tốt nhất. Vì vậy, xây dựng văn bản về Luật hay chính sách phát triển thanh niên đều cần xác định tiền đề định hướng chính sách, từ đó sẽ có căn cứ để bắt đầu quy trình xây dựng luật”.
8 Khái niệm về chính sách phát triển thanh niên: Chính sách phát triển thanh niên là chính sách công, là tập hợp các quyết định chính trị của Nhà nước có liên quan đến đối tượng thanh niên để tác động, nhằm lựa chọn các mục tiêu với giải pháp và công cụ cụ thể thực hiện giải quyết các vấn đề phát triển thanh niên theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền. - Khái niệm nâng cao thể chất Theo từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý thì: “Thể chất hiểu theo nghĩa hẹp là chất lượng cơ thể” [41, tr. Còn theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (Việt Nam, 2006) cũng đồng tình với khái niệm đó đồng thời khẳng định rõ hơn: “Nội dung của thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng. Trong đó thể hình là hình thái cấu trúc của cơ thể còn năng lực thể chất lại chủ yếu liên quan đến khả năng chức năng của hệ thống cơ quan trong cơ thể thể hiện chính qua hoạt động cơ bắp.
Nó bao gồm các tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, mềm dẻo, linh hoạt, sức bền) và những năng lực vận động cơ bản của con người. Khả năng thích ứng là chỉ trình độ (năng lực) thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể con người với hoàn cảnh bên ngoài bao gồm cả sức đề kháng của con người đối với bệnh tật” [21, tr. Qua các nghiên cứu trên, có thể đưa ra khái niệm về thể chất và phát triển thể chất như sau: Thể chất được hiểu là chỉ chất lượng cơ thể con người. Phát triển thể chất là quá trình hình thành và thay đổi hình thái chức năng cơ thể diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân (chúng được hình thành trên và trong cái nền thân thể ấy).
Thể chất bao hàm cả về sức khỏe, thể lực và tầm vóc của một con người. Theo ngôn ngữ thông dụng phát triển là đi lên, sự biến đổi và phát triển của sự vật và hiện tượng. 9 - Khái niệm KNS: Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng thống nhất trên nội dung cơ bản: + Theo WHO (1993) “Năng lực tâm lý xã hội là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh.
Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. KNS là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này” [17, tr. + “Giáo dục KNS được thiết kế nhằm hỗ trợ và củng cố việc thực thi các kỹ năng tâm lý xã hội một cách phù hợp với nền văn hóa và sự phát triển. Nó đóng góp vào sự phát triển của cá nhân và xã hội, việc phòng chống các vấn đề xã hội và sức khỏe, và sự phát triển của quyền con người” (Cuộc họp liên ngành của Liên hiệp quốc, Geneve, 7/4/1998) [17, tr.
Như vậy, giáo dục KNS có tác dụng nâng cao nhận thức, trang bị thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh cho thanh thiếu niên. Vì vậy, giáo dục KNS là một hình thức can thiệp sớm, có tác dụng tích cực trong việc ngăn ngừa những hành vi lệch lạc của trẻ em, thanh niên. + Khái niệm KNS cho thanh niên KNS cho thanh niên là hành động giúp cho mỗi thanh niên chủ động lựa chọn cách thức, con đường để tích lũy kinh nghiệm, dựa trên mục đích của từng cá nhân để hoàn thiện bản thân và hội nhập với môi trường xã hội. Ngoài ra, phát triển KNS cho thanh niên còn cần sự hỗ trợ từ phía gia đình, nhà trường và xã hội.
Chính sách phát triển thanh niên 1. Khái niệm chính sách phát triển thanh niên Chính sách phát triển thanh niên là chính sách công, là tập hợp các quyết định chính trị của Nhà nước có liên quan đến đối tượng thanh niên để tác động nhằm lựa chọn các mục tiêu với giải pháp và công cụ cụ thể thực hiện giải quyết các vấn đề phát triển thanh niên theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền. Nội dung chính sách phát triển thanh niên Nội dung chính sách phát triển thanh niên được thể hiện thông qua Quyết định số 2474/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 [5, tr. Trong đó xác định các vấn đề trọng tâm như sau: - Về quan điểm chỉ đạo: (1) Chiến lược phát triển thanh niên là bộ phận cấu thành quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 góp phần bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người, nhằm mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
(2) Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của gia đình, nhà trường, xã hội và các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên. (3) Chiến lược phát triển thanh niên là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách nhằm chăm lo giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng thanh niên. (4) Bảo đảm phát huy vai trò tích cực của thanh niên trong việc tổ chức triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên ở các cấp, các ngành. (5) Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển thanh niên Việt Nam ngang tầm với thanh niên khu vực và thế giới.
(6) Huy động mọi nguồn lực hợp pháp để bảo đảm thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển thanh niên. 11 - Mục tiêu của Chiến lược: Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có đạo đức cách mạng, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có trình độ học vấn, nghề nghiệp và việc làm; có văn hóa, sức khỏe, KNS và ý chí vươn lên; xung kích, sáng tạo làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến; hình thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ thể chính sách phát triển thanh niên Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước, cụ thể là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước.
Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo toàn diện về mọi mặt đời sống xã hội, do đó Đảng cộng sản Việt Nam là chủ thể lãnh đạo định hướng việc hình thành mục tiêu, nguyên tắc và giải pháp phát triển thanh niên. Chính phủ với chức năng quản lý, điều hành nền kinh tế và mọi hoạt động của xã hội, đối với chính sách phát triển thanh niên chính phủ là chủ thể ở cấp Trung ương, ở địa phương là Ủy ban nhân dân các cấp; các bộ, ngành và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia vào chính sách phát triển thanh niên với tư cách chủ thể quan trọng, thông qua các chức năng chính: Thực thi và tổ chức thực hiện, dự thảo về thủ tục hành chính. Có thể tổng hợp chủ thể chính sách phát triển thanh niên như sau: Bảng 1. Phân tích chủ thể chính sách phát triển thanh niên [5] Hệ thống tổ Các bên tham gia Chức năng/ nhiệm vụ Vai trò chức (chủ thể) Quốc hội (Ủy ban Ban hành và giám sát việc Thẩm tra, Cấp trung ương Văn hóa, Giáo dục, thực hiện Luật, Nghị Giám sát Thanh niên, Thiếu quyết của Quốc hội; giám 12 niên và Nhi đồng; sát hoạt động của Chính Ủy ban các vấn đề phủ, các Bộ, cơ quan xã hội) ngang bộ… trong thực hiện chính sách phát triển thanh niên.
Chính phủ Thống nhất quản lý Chính Quản lý sách phát triển thanh niên. trong phạm vi cả nước Ủy ban Quốc gia về Phối hợp với các bộ, cơ Cơ quan tư Thanh niên Việt quan ngang bộ, cơ quan vấn cho Nam thuộc Chính phủ và các Chính phủ, cơ quan, tổ chức liên Thủ tướng quan nghiên cứu, đề xuất Chính phủ xây dựng các cơ chế, về công tác chính sách về thanh niên thanh niên và công tác thanh niên. Bộ Nội vụ Là cơ quan của Chính phủ Quản lý (Vụ Công tác thực hiện chức năng tham cấp Trung Thanh niên) mưu, giúp việc cho Chính ương phủ, Thủ tướng Chính phủ quản lý nhà nước về thanh niên.