Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài - Chương 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp. - Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu của mặt hàng gỗ sang thị trường mỹ của công ty cổ phần Gemmy Wood - Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của mặt hàng gỗ sang thị trường mỹ của công ty cổ phần Gemmy Wood 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Lý thuyết chung về cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật kinh tế cơ bản, quan điểm về cạnh tranh rất rộng, khái niệm cạnh tranh xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ đời sống, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể thao.có khá nhiều định nghĩa về cạnh tranh khác nhau, nhƣng hiện nay chƣa có quan điểm thống nhất.
Cụ thể: Theo quan điểm cạnh tranh cổ điển, Cac-Mac cho rằng: “Cạnh tranh là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa dựa theo chế độ sở hữu khác nhau về tƣ liệu sản xuất , nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, chế độ sở hữu khác nhau về tƣ liệu sản xuất gây ra cạnh tranh, theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”, các nhà tƣ bản đƣa ra những biện pháp sử dụng để cạnh tranh là thƣờng xuyên cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động , để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Theo Từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình". Theo Từ điển Tiếng Việt (Tác giả: Viện ngôn ngữ học – Tái bản năm 2010): “Cạnh tranh là cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những ngƣời, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích nhƣ nhau”. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.” Mặc dù có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, nhìn chung theo các cách giải thích trên, trong khoa học kinh tế cạnh tranh đƣợc hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trƣờng nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng. Cạnh tranh có thể xuất hiện giữa những 6 ngƣời bán hàng và cũng có thể xuất hiện giữa những ngƣời mua hàng nhƣng cạnh tranh giữa những ngƣời bán hàng là phổ biến. Tóm chung lại bản chất của cạnh tranh dƣới giác độ kinh tế đó là: - Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường để giành giật khách hàng.
- Quá trình cạnh tranh giữa các đối thủ diễn ra trên thị trường. - Cạnh tranh chỉ diễn ra trong điều kiện của cơ chế thị trường. Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh có vai trò đặc biệt không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn cả ngƣời tiêu dùng và nền kinh tế - Đối với doanh nghiệp: + Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không. + Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
+ Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trƣờng thông qua thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. - Đối với người tiêu dùng: Ngƣời tiêu dùng có cơ hội nhận đƣợc những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lƣợng và giá thành phù hợp với khả năng của họ. - Đối với nền kinh tế: + Cạnh tranh là động lực phát triển của các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. + Giúp phát triển lực lƣợng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật.
+ Góp phần làm tăng tính năng động của nhà doanh nghiệp bên cạnh đó còn gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của các sản phẩm mới Tuy nhiên cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo có thể dẫn tới xu hƣớng độc quyền trong kinh doanh 2. Lý thuyết năng lực cạnh tranh 7 Khái niệm năng lực cạnh tranh Cũng giống nhƣ “Cạnh tranh”, “Năng lực cạnh tranh” (NLCT) không có một định nghĩa cụ thể nào. Tuy nhiên có thể hiểu “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp” là khả năng chống chịu trƣớc sự tấn công của các doanh nghiệp khác. Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khái niệm cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất lao động”.
Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tƣơng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Từ đây, ta có thể đƣa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là : "Khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm , mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững’’. Qua khái niệm trên ta cũng có thể thấy “năng lực cạnh tranh” không phải là một chỉ tiêu đơn thuần, mà nó đƣợc tổng hợp từ rất nhiều tiêu chí cấu thành. Vì vậy, để đánh giá đƣợc “năng lực cạnh tranh” của một doanh nghiệp phải xem xét các yếu tố ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các lực lượng cạnh tranh Một trong những công cụ phân tích mạnh nhất và đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trong phân tích áp lực cạnh tranh của ngành trong một thị trƣờng chính là mô hình năm lực lƣợng cạnh tranh.
8 Hình 1: Mô hình 5 lực lƣợng cạnh tranh của M. Porter (Nguồn: Michael Porter (2008), “The Five Competitive Forces That Shape Strategy”, Havard Business Review 86 (1), pp 80-86) Theo mô hình 5 lực lƣợng cạnh tranh của M. Porter ta có thể thấy, 5 yếu tố đƣợc coi là nguy cơ gây nên áp lực cạnh tranh trong ngành bao gồm: Đối thủ cạnh tranh trong ngành: Lực lƣợng đầu tiên trong năm lực lƣợng đề cập đến số lƣợng đối thủ cạnh tranh và khả năng của họ trong việc cắt giảm một công ty. Số lƣợng đối thủ cạnh tranh càng lớn, cùng với số lƣợng sản phẩm và dịch vụ tƣơng đƣơng mà họ cung cấp, thì sức mạnh của một công ty càng giảm.
Các nhà cung cấp và ngƣời mua tìm kiếm sự cạnh tranh của công ty nếu họ có thể đƣa ra một thỏa thuận tốt hơn hoặc giá thấp hơn. Ngƣợc lại, khi mức độ cạnh tranh thấp, một công ty có quyền lực lớn hơn để tính giá cao hơn và đặt ra các điều khoản thỏa thuận để đạt đƣợc doanh số và lợi nhuận cao hơn. Các đối thủ mới tiềm năng: Quyền lực của một công ty cũng bị ảnh hƣởng bởi lực lƣợng của những ngƣời mới tham gia vào thị trƣờng của nó. Càng ít tốn thời gian và tiền bạc để đối thủ cạnh tranh thâm nhập thị trƣờng của công ty và trở thành 9 đối thủ cạnh tranh hiệu quả, thì vị thế của một công ty đã có uy tín có thể bị suy yếu đáng kể.
Một ngành có rào cản gia nhập mạnh là lý tƣởng cho các công ty hiện có trong ngành đó vì công ty có thể tính giá cao hơn và thƣơng lƣợng các điều khoản tốt hơn. Quyền lực của các nhà cung cấp: Yếu tố tiếp theo trong mô hình năm lực lƣợng đề cập đến việc các nhà cung cấp có thể tăng chi phí đầu vào một cách dễ dàng nhƣ thế nào. Nó bị ảnh hƣởng bởi số lƣợng nhà cung cấp các yếu tố đầu vào chính của hàng hóa hoặc dịch vụ, mức độ độc đáo của các yếu tố đầu vào này và chi phí mà một công ty phải trả khi chuyển sang nhà cung cấp khác. Càng ít nhà cung cấp cho một ngành, thì một công ty càng phụ thuộc nhiều hơn vào một nhà cung cấp.
Kết quả là, nhà cung cấp có nhiều quyền lực hơn và có thể tăng chi phí đầu vào và thúc đẩy các lợi thế khác trong thƣơng mại. Mặt khác, khi có nhiều nhà cung cấp hoặc chi phí chuyển đổi thấp giữa các nhà cung cấp đối thủ, một công ty có thể giữ cho chi phí đầu vào thấp hơn và nâng cao lợi nhuận của mình.Nguy cơ từ các nhà cung cấp Quyền lực của khách hàng: Khả năng khách hàng phải hạ giá hoặc mức độ quyền lực của họ là một trong năm lực lƣợng. Nó bị ảnh hƣởng bởi số lƣợng ngƣời mua hoặc khách hàng mà công ty có, mức độ quan trọng của mỗi khách hàng và công ty sẽ tốn bao nhiêu chi phí để tìm kiếm khách hàng hoặc thị trƣờng mới cho đầu ra của mình. Cơ sở khách hàng nhỏ hơn và mạnh hơn có nghĩa là mỗi khách hàng có nhiều quyền lực hơn để thƣơng lƣợng để có giá thấp hơn và giao dịch tốt hơn.
Một công ty có nhiều khách hàng độc lập, nhỏ hơn sẽ dễ dàng tính giá cao hơn để tăng lợi nhuận. Các sản phẩm thay thế: Hàng hóa hoặc dịch vụ thay thế có thể đƣợc sử dụng thay thế cho các sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty gây ra mối đe dọa. Các công ty sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ không có sản phẩm thay thế gần gũi sẽ có nhiều quyền lực hơn để tăng giá và chốt các điều kiện có lợi. Khi có sẵn các sản phẩm thay thế gần gũi, khách hàng sẽ có quyền lựa chọn từ bỏ việc mua sản phẩm của công ty và sức mạnh của công ty có thể bị suy yếu.