Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Hàn Quốc của Công ty Cổ phần May Xuất khẩu Đại Đồng 14 Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Hàn Quốc của Công ty Cổ phần May Xuất khẩu Đại Đồng 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm về xuất khẩu Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại (2005): “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Có thể hiểu một cách đơn giản, Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ của một quốc gia sang một hoặc nhiều quốc gia khác trên cở sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán, tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước giao dịch hoặc của nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).
Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực từ kinh tế, thương mại, luật đến chính trị, quân sự. Do vậy mà có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “cạnh tranh”. Cụ thể: Theo quan điểm cạnh tranh cổ điển, Các Mác cho rằng: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.” Theo nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức độ lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.” Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.” 16 Qua một vài quan điểm trên mà ta có thể hiểu một cách cụ thể về khái niệm cạnh tranh: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm Cho đến nay, các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất. Các khái niệm đưa ra đều dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh của quốc gia và của doanh nghiệp. Theo hai tác giả Keinosuke Ono và Tatsuyuki Negoro nhận định: “Sản phẩm cạnh tranh tốt là sản phẩm hội tụ đủ các yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong đó yếu tố cơ bản nhất là chất lượng sản phẩm.
Sản phẩm cạnh tranh là sản phẩm đem lại một giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”. Một số tác giả khác cho rằng năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội về các tiêu chí so với sản phẩm cùng loại do đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Khái niệm này cho thấy, việc xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay không trên thị trường là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm về số lượng, chất lượng, bao bì, mẫu mã, về giá cả, đổi mới công nghệ, dịch vụ sau bán hàng.so với sản phẩm cùng loại mà các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Như vậy, mặc dù chưa thống nhất về khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm, nhưng có thể hiểu rằng: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố có thể kể đến như chất lượng, thời gian sản xuất, thương hiệu, giá thành, tính năng,… Sức cạnh tranh còn thể hiện ở mức độ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng, người tiêu dung, qua đó nâng cao khả năng duy trì và phát triển sản phẩn trên các thị trường trong và ngoài nước.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, hoạt động xuất khẩu diễn ra mạnh mẽ, bởi vậy mà hoạt động xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài của các doanh nghiệp chịu sự cạnh 17 tranh mạnh mẽ. Năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa chính là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp xuất khẩu có thể đứng vững trong nền kinh tế quốc tế hiện nay. Tuy nhiên từ trước đến nay chưa có nhiều khái niệm diễn tả năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm. Chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm đó là sự vượt trội sản phẩm của một quốc gia so với các sản phẩm cùng loại của các quốc gia khác về chất lượng và giá cả, với cùng điều kiện đáp ứng được yêu cầu của thị trường nhập khẩu trong cùng một thời điểm.
Tuy nhiên, ngày nay vấn đề cạnh tranh không chỉ còn là việc so sánh giữa giá cả và chất lượng mà còn nhiều yếu tố khác như thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, sự độc đáo của sản phẩm, sự khác biệt của sản phẩm.Nếu sản phẩm chỉ có giá rẻ hơn hoặc chất lượng hơn chưa chắc đã thuyết phục người tiêu dùng chọn mua. Với cách nhìn nhận như trên kết hợp với sự kế thừa từ khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm là sự vượt trội cả về định tính gồm: chất lượng, thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm. và định lượng gồm: giá bán, thị phần, sản lượng, doanh thu.của một sản phẩm xuất khẩu của một doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh ở thị trường nước ngoài tại cùng một thời điểm. Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Hội nhập sâu rộng giúp các doanh nghiệp có nhiều cơ hội mở rộng kinh doanh, quảng bá và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang nước ngoài đồng thời tiếp cận nhiều thị trường quốc tế tiềm năng.
Mặt khác, điều này cũng gia tăng sự cạnh tranh các đối thủ trong ngành không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Chính vì vậy, doanh nghiệp luôn nỗ lực để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của mình. Thứ nhất, nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm sẽ khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại đồng thời sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế trong nước và thâm nhập vào các thị trường nước ngoài tốt hơn.
18 Thứ hai, khi các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh với nhau, người tiêu dùng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn về giá cả và chất lượng thông qua việc so sánh các sản phẩm, hàng hóa với nhau. Đồng thời, các sản phẩm cũng có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ thỏa mãn được nhu cầu của các phân khúc người tiêu dùng khác nhau. Thứ ba, bên cạnh mang lại lợi ích cho bản thân doanh nghiệp và người tiêu dùng, việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu cũng giúp các đối thủ trong ngành tìm hiểu những chiến lược hiệu quả cũng như tận dụng nguồn lực tối ưu để gia tăng lợi thế cạnh tranh, từ đó thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Mặt khác, trong những năm qua, xuất khẩu đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của nước ta, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống thu nhập cho người dân.
Nói cách khác, khi mỗi doanh nghiệp gia tăng cạnh tranh theo hướng tích cực sẽ trực tiếp làm tăng giá trị sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất trong nước để đáp ứng theo tiêu chuẩn nước nhận xuất khẩu. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Ở góc độ năng lực cạnh tranh của sản phẩm, lý thuyết thương mại truyền thống đã xem xét năng lực cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất so với đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm cụ thể trên thị trường. Cạnh tranh sản phẩm thể hiện những lợi thế của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh.
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm các tiêu chí cơ bản và các chỉ tiêu cụ thể. Các tiêu chí cơ bản ➢ Giá thành và giá cả sản phẩm: Giá thành và giá cả sản phẩm ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh, thị phần, doanh thu và lợi nhuận của công ty. Giá thành và giá cả sản phẩm trong tương quan với chất lượng thấy được và các chi phí chuyển đổi, chi phí tiêu dùng sản phẩm. Qua phân tích giá thành và giá cả sản phẩm, đánh giá được vị thế của sản phẩm của một doanh nghiệp trên thị trường, cũng như chất lượng sản phẩm được bộc lộ rõ ràng nhất.
Do vậy, doanh nghiệp 19 có thể chủ động kiểm soát giá thành và giá cả sản phẩm sẽ là một trong những tiêu chí giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. ➢ Chất lượng sản phẩm: Có thể nói chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế kĩ thuật khá trừu tượng. Khi nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, ta lại có những quan điểm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Theo Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO): “Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”.