ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1— Sự cần thiết của dé tài Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể trong đó có thể nói thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát triển mạnh nhất, là trung tâm kinh tế — văn hóa — khoa hoc ki thuật của nước ta. Cùng với nhịp điệu tăng trưởng của thành phố, mức sống cũng như trình độ dân trí của người dân thành phố không ngừng gia tăng. Cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao thì các nhu cầu của người dân trong cuộc sống cũng có nhiều thay đổi. Một trong những thay đổi quan trọng đó là: nhu cầu về thức uống.
Thật vậy, nhu cầu về thức uống không được nghĩ đơn giản như trước ma còn được xem theo một xu hướng khác. Nước giải khát hiện nay ngoài việc đáp ứng yêu cầu cung cấp nước cho cơ thể còn phải được dùng dé thưởng thức hương vi thơm ngon, nhu cầu dinh dưỡng, có lợi cho sức khoẻ. Nước giải khát gần với thiên nhiên như nước trái cây là giải pháp tốt nhất vừa phục vụ nhu cầu giải khát vừa bảo vệ sức khoẻ con người. Ở nước ta, nước trái cây đa phần được làm bằng thủ công là xay ra từ trái cây tươi và chủ yếu là làm tại nhà.
Sở dĩ như thế là vì số phụ nữ Việt Nam chỉ làm công việc nội trợ trong gia đình vẫn còn tương đối cao, thời gian nhàn rỗi trong công việc của người dân còn khá nhiều và phương pháp làm việc trong công sở của chúng ta chưa thật sự chuyên nghiệp. Trong tương lai, đất nước ngày càng phát triển đòi hỏi mỗi cá nhân trong xã hội sẽ phải làm việc nhiều hơn và áp lực công việc cũng nhiều hơn. Khi đó, thời gian nhàn rỗi của người dân sẽ ít đi và việc sử dụng nước trái cây bày bán trên thị trường sẽ trở nên tiện dụng hơn và phù hợp hơn với họ. La một công ty có truyền thống lâu đời trong lĩnh vực sản xuất nước giải khát ở Việt Nam cùng với việc nắm bắt được xu hướng tiêu dùng của người dân cũng như có một tầm nhìn xa trông rộng, TRIBECO đã cho ra đời san phẩm nước ép cam - cà rốt Trio hội đủ các yếu tố: giải khát và có những chất dinh dưỡng rất tốt cho sức khoẻ con người.
Tuy nhiên, trong nên kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay nhất là khi có sự tham gia của các công ty hùng mạnh trên thế giới cùng với sự ra đời của nhiều công ty trong nước trong lĩnh vực sản xuất nước giải khát thì việc cạnh tranh để tổn tại và phát triển là một nhiệm vụ trọng tâm và tối quan trọng đối với TRIBECO và sản phẩm Trio cũng không nằm ngoài quy luật này. Với sự phân công của khoa kinh tế, sự giúp đỡ của công ty và sự hướng dẫn tận tình của thay Trần Độc Lập cùng các thay cô trong khoa kinh tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:” Một số dé xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Trio trên thị trường thành phố Hồ Chi Minh”.2— Mục đích nghiên cứu — Hệ thống hoá cơ sở lý luận về cạnh tranh để làm nên tảng cho nghiên — Giới thiệu sơ nét về sản phẩm Trio. — Tìm hiểu về thị trường nước giải khát để thấy được sự gia tăng về nhu cầu nước giải khát không gas trong thời gian qua. — Đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Trio so với sản phẩm Twister.
— Dé xuất một số giải pháp dé tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm Trio.3— Phạm vỉ nghiên cứu 1.1—- Không gian Đề tài chủ yếu nghiên cứu về công ty nước giải khát TRIBECO đặc biệt là san phẩm Trio cam — cà rốt, thị trường dé tài tập trung đến là thị trường nước giải khát thành phố Hồ Chí Minh mà trọng tâm là dòng sản phẩm nước trái cây.2- Thời gian Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 3/2005 đến 6/2005. Số liệu được sử dụng trong đề tài chủ yếu là trong 2 năm 2003 và 2004.4— Nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn dé chủ yếu sau: - Tìm hiểu về nguyên nhân ra đời và đặc điểm của sản phẩm Trio. - Đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Trio so với sản phẩm Twister thông qua các chỉ tiêu: dung lượng thị trường của sản phẩm, hệ thống phân phối sản phẩm, phát triển thương hiệu sản phẩm, năng lực sản xuất, chi phí san xuất, chất lượng sản phẩm. - Đánh giá các mặt thuận lợi, khó khăn, cơ hội, và de doa (SWOT) của sản phẩm Trio.
- Để xuất một số giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Trio. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1— Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế so sánh đối với sản phẩm cùng loại. Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên như thương hiệu sản phẩm, năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm, hệ thống phân phối. Khi nói san phẩm A do doanh nghiệp B sản xuất có năng lực cạnh tranh hơn sản phẩm A do doanh nghiệp C sản xuất là nói đến những lợi thế vượt trội của sản phẩm do doanh nghiệp B sản xuất như thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp B mạnh hơn sản phẩm của doanh nghiệp C hoặc thương hiệu của doanh nghiệp B mạnh hơn so với doanh nghiệp C, doanh nghiệp B có năng lực sản xuất lớn hơn, có chi phi san xuất trên 1 đơn vị sản phẩm thấp hơn, sản phẩm có chất lượng cao hơn, có dung lượng thị trường được chiếm lĩnh lớn hơn, hệ thống phân phối sản phẩm của doanh nghiệp B mạnh hơn doanh nghiệp C.
Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu thì yếu tố lợi thế được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng của sản phẩm và một phần không nhỏ là tâm lý tiêu dùng. Như vậy có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau hoặc năm sau nữa lại không còn kha năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế.2 - Những nội dung cơ bản của việc nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp 2.1 - Nghiên cứu dự báo nhu câu thị trường Để tạo được lợi thế cạnh tranh trên thương trường trong một lĩnh vực hoạt động đã hoặc đang theo đuổi thì việc nghiên cứu và dự báo nhu cầu thị trường là một sứ mạng tất yếu của một doanh nghiệp. Sau khi nghiên cứu nhu cầu thị trường, thị trường và khách hàng, doanh nghiệp sử dụng các công cụ để thu thập các thông tin cần thiết và xử lý những thông tin này để có được những dự báo về nhu cầu thị trường và có sự lựa chọn phù hợp, chính xác.
Thu thập thông tin là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Thông tin cung cấp cho quá trình nghiên cứu xuất phát từ hai nguồn chủ yếu: nguồn thông tin thứ cấp và nguồn thông tin sơ cấp. e Nguồn thông tin thứ cấp là các thông tin có sẵn từ các nguồn khác nhau, không cần phải tốn nhiều thời gian và chi phí cho quá trình thu thập. Nguồn thông tin thứ cấp có hai loại là nguồn thông tin thứ cấp nội bộ và nguồn thông tin thứ cấp bên ngoài.
Ví dụ như các báo cáo nghiên cứu của Chính phủ hoặc các tổ chức khác như Viện nghiên cứu, hội nghị, hội thảo, các báo cáo chuyên đề,. e Nguồn thông tin sơ cấp là các nguồn thông tin thu được từ các nghiên cứu, khảo sát ban đầu. Để có được những thông tin này, doanh nghiệp can phải tốn nhiều thời gian và chi phí. Có rất nhiều phương pháp dự báo, mỗi phương pháp khác nhau về mức độ phức tạp và độ tin cậy cũng như có những ưu điểm và hạn chế riêng của từng phương pháp.
Trong quá trình lựa chọn phương pháp dự báo, doanh nghiệp cần phải căn cứ vào nhu cầu dự báo và khả năng của mình để lựa chọn phương pháp thích hợp. Một vài phương pháp tiêu biểu như: - Phuong pháp định tính: bao gồm các kỹ thuật dự báo được thực hiện dựa vào kinh nghiệm, sự hiểu biết của các chuyên gia để suy đoán các sự kiện. Thông thường người ta áp dụng phương pháp này đối với các vấn dé mà dữ liệu quá khứ không có sẵn hoặc đối với các vấn đề mà mối quan hệ giữa các biến số không có tính ổn định. - Phuong pháp định lượng: bao gồm một số phương pháp cơ bản như phép ngoại suy xu hướng, liên hệ xu hướng, mô hình kinh tế lượng.
Ngoài ra còn có một số phương pháp khác như: phương pháp thực nghiệm, phương pháp đầu vào dau ra, kịch bản nhiều lần. Qua các báo cáo, nghiên cứu về thị trường, nhu câu. doanh nghiệp sẽ xác định thị trường mục tiêu của mình và trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ để ra những phương án, chiến lược cạnh tranh thích hợp nhằm đạt được những kết quả tốt trong quá trình san xuất — kinh doanh.2 —- Phân loại đối thủ cạnh tranh Ngày nay, cạnh tranh trên thị trường là vấn để bình thường, xẩy ra trong hầu hết các lĩnh vực, ngành kinh tế. Trong những thập niên 1990, ở các nước phát triển và các nước công nghiệp mới (những con Rồng châu A), sự cạnh tranh diễn ra hết sức quyết liệt trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
Vào thế kỉ 21, những tập đoàn kinh tế lớn đa quốc gia của những nước phát triển đang cạnh tranh trong phạm vi toàn cầu. Do đó, việc nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh là công việc có ý nghĩa rất quan trọng của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh hoàn toàn. Kết quả của việc nghiên cứu cho phép doanh nghiệp hoạch định các chiến lược một cách có căn cứ và khoa học nhằm đạt được hiệu quả tốt trong hoạt động. Căn cứ vào thực tế hoạt động cạnh tranh, có thể phân chia đối thủ cạnh tranh thành các nhóm sau: — Đối thủ cạnh tranh nhãn hiệu: là những doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành, sử dụng — kinh doanh cùng loại sản phẩm hay các sản phẩm có cùng công dụng.